Sự phát triển của Phật giáo trong những thời kỳ lịch sử này, với tinh thần nhập thế thể hiện ở những mức độ khác nhau, không hề đứng trên tư tưởng thống trị, quyền lực và quyền lợi, Phật giáo đã thực thi một tinh thần khoan dung, độ lượng, hòa hợp đối với dân chúng, đối với kẻ địch, và cả đối với những tư tưởng-giáo lý khác.

Tiểu luận này hoàn toàn chỉ như một tổng kết ngắn gọn của vấn đề được nêu, từ các tài liệu lịch sử và sử liệu Phật giáo rất có giá trị của các học giả lớn trên lĩnh vực này. Một vài nhận định cỏn con của tôi từ đó thật sự không đáng gì so với các nguồn học thuật này, nhưng là kết quả của cảm giác thú vị trong khám phá khi nhận ra những điều thật sự thú vị của lịch sử Phật giáo nước nhà giai đoạn này. Mong rằng cảm giác này truyền được sang những bạn đọc có quan tâm đến đề tài nhưng lại không có nhiều thời gian để đọc lại toàn bộ sử liệu.

Tôi mang ơn Nguyễn Lang, tác giả của bộ Việt Nam Phật giáo sử luận, nguồn cung cấp tư liệu chủ lực cho tiểu luận này.

Lê Tuấn Huy


Phật giáo là một trào lưu triết học - tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 TCN ở bắc Ấn Độ. Người sáng lập ra hệ thống triết học - tôn giáo này là Tất Đạt Đa (Siddhatha), thái tử của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thuộc bộ tộc Sakiya. Vị thái tử này (khoảng 563-483 TCN) đã từng theo học các tu sĩ Bà La Môn từ năm lên bảy, kết hôn năm 16 tuổi, mười ba năm sau đó sống trong cuộc đời vương giả, nhưng trong một đêm tháng Hai năm vừa tròn 29 tuổi, đã lặng lẽ rời hoàng cung đi tìm chân lý. Trải qua sáu năm với những phương pháp tu luyện ép xác nhưng không đạt được chánh đạo, nhưng chỉ sau 48 ngày nhập định, Tất Đạt Đa ngộ rõ căn nguyên sinh thành, biến hóa của vũ trụ, căn nguyên của những khổ đau, và đề ra phương pháp diệt trừ nỗi khổ đó cho chúng sinh, bằng học thuyết “Nhân duyên sinh” và triết lý “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “Bát chánh đạo”. Con người này đã đưa ông trở thành đức Phật Thích Ca đầy uy nghiêm tinh thần trong đời sống của người phương Đông hết thế hệ này đến thế hệ khác.

Giáo lý nhà Phật tuy có nhiều tông phái khác nhau, nhưng tựu trung những điểm được đề cập sau đây vẫn là những nền tảng cơ bản.

Thế giới, vũ trụ, theo quan niệm Phật giáo, là luôn vận động, biến đổi, các biến đổi diễn ra nhanh như chớp mắt, và thế giới thì không có trước, không có sau, vô thủy, vô chung. Đó cũng chính là lẽ vô thường, tức không có gì là tồn tại cố định, mà có đó, mất đó. Con người cũng thuộc dòng chảy không ngừng đó, nên không gì là bản thân ta cả, tức vô ngã. Những biến đổi này, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là do tự thân vận động, không xuất phát từ bên ngoài, mà từ lẽ nhân duyên, theo luật nhân quả, nghiệp báo. Tùy thuộc vào nghiệp báo mà biến đổi của các sinh linh diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, hoán chuyển từ cõi này sang cõi kia, đó là luân hồi.

Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bể khổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão, bệnh, tử, là những ham muốn nhục dục, xuất phát từ sự che lấp trí tuệ bởi ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức), làm cho ta cố chấp trong việc phân biệt cái ta và cái khác ta, dẫn đến thái độ “ngã chấp”, trọng cái ta, khiến con người ta vô minh. Muốn thoát khỏi bể khổ thì phải diệt dục, nhẫn nhục, từ bi, hỉ xả, hy sinh, đi theo con đường của bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mệnh, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định.

Những giáo lý mang nặng tính triết lý, đạo đức này đã có một ảnh hưởng sâu rộng lên phong tục, tập quán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam ta.


1. Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta

1.1. Nguồn gốc nguyên thủy từ Ấn Độ của Phật giáo Việt Nam


Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền sang trực tiếp từ Ấn Độ. Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy, một số nhà nghiên cứu chuyên sâu, có uy tín về Phật giáo đã khẳng định điều này [1] .
Quốc gia Âu Lạc đã bị Nam Việt của Triệu Đà thôn tính vào năm 179 TCN, và lập thành quận Giao Chỉ. Năm 110 TCN, Nam Việt trở thành nội thuộc của nhà Hán, Giao Châu theo đó mà cũng quy về, và được chia thành hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân.

Trên lãnh thổ của nhà Hậu Hán, sau đó đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo là Luy Lâu, Lạc Dương và Bành Thành. Sử liệu cổ của Trung Hoa cũng không ghi nhận được rõ ràng sự hình thành của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành, chỉ có Luy Lâu thuộc Giao Chỉ là được xác định rõ ràng và sớm nhất, và còn là bàn đạp cho việc hình thành hai trung tâm kia.

Từ nửa sau thế kỷ thứ hai, Luy Lâu đã tồn tại như một trung tâm Phật giáo quan trọng và phồn thịnh. Điều này cho thấy việc du nhập Phật giáo vào Giao Châu là rất sớm, có lẽ từ đầu công nguyên.

Vào đầu công nguyên, Ấn Độ đã có được sự giao thương mạnh mẽ với Trung Đông, và gián tiếp với vùng Địa Trung Hải, do đó họ cần có một nguồn cung cấp nguyên vật liệu, vật phẩm cho sự giao thương này. Họ giong buồm, theo gió mùa tây nam mà đi về đông. Họ đến Giao Chỉ, rồi có thể từ Giao Chỉ mà lại theo tiếp đường biển hay đường bộ vào trong nội địa Trung Hoa. Trong khi đợi gió mùa đông bắc để quay về Ấn, sự lưu trú của số thương gia này đã lan truyền dần những nét văn hóa Ấn Độ, trong đó có việc thờ cúng Phật, tụng kinh… Những tăng sĩ mà các thương nhân đem theo trên thuyền buôn nhằm làm công việc cầu khấn sự phù trợ của đức Phật, là những người đã trực tiếp truyền bá Phật học và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu.

Một số chứng liệu, lập luận đáng chú ý khác cũng củng cố nguồn gốc khởi thủy sớm sủa từ Ấn Độ của Phật giáo Việt Nam so với Phật giáo Trung Hoa. Theo đó thì vào thời kỳ nhà Hán, Khổng và Lão giáo, đặt biệt là Khổng giáo, đã rất mạnh, giới trí thức Khổng, Lão đã chống lại Phật giáo, một luận thuyết tỏ ra khá xa lạ với những chuẩn mực đạo đức, xã hội của Khổng, Lão. Do đó mà Phật giáo rất khó để có thể thâm nhập. Người Hán muốn đưa Phật giáo vào, sau đó đã phải mượn thuyết “hóa Hồ” để dễ dàng hơn trong việc thực hiện công việc này [2] . Trong khi đó, ở Giao Châu, Phật giáo xem ra rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian, nên việc thâm nhập không gặp trở ngại, mà lại còn dễ dàng và nhanh chóng.

Vào thời đó, dù từ Trung Hoa đã có con đường bộ đi đến Ấn gần hơn đường biển, nhưng con đường xuyên qua Trung Á lại chứa đựng nhiều hiểm nguy, và đường biển lại là con đường an ninh hơn, không có núi non, sa mạc, hay cướp bóc, giết chóc. Bằng chứng là vào đầu thế kỷ thứ tư, con đường bộ đã dễ đi hơn, nhưng đến cuối thế kỷ này, Pháp Hiển mới từ Trung Hoa sang Ấn, và đến tận thế kỷ thứ bảy, Huyền Trang đã phải trải qua không biết bao nhiêu gian nan mới đi trọn vẹn con đường.

Ngoài ra còn có hai chứng liệu rất quan trọng cho nguồn gốc rất sớm của Phật giáo Việt Nam. Thứ nhất, tập luận thuyết Phật giáo đầu tiên bằng Hán tự, Lý hoặc luận của Mâu Tử (165? 170? -?) đã được viết ở Giao Chỉ, chứ không phải ở một nơi nào khác sâu trong nội địa Hán. Thứ hai, vào thế kỷ thứ hai, ở Giao Chỉ đã có một tăng đoàn đến 500 vị và khoảng 15 bộ kinh, trong khi đến thế kỷ thứ ba ở Hán mới có tăng đoàn.


1.2. Phật giáo ở giai đoạn đầu du nhập vào Việt Nam

Như trên đã nói, khởi thủy du nhập của Phật giáo vào Việt Nam là từ Ấn Độ, Qua các đoàn thuyền buôn mà người Ấn đã đem vào nước ta những sinh hoạt và giáo lý Phật giáo.

Trên đất Giao Chỉ vốn đã hình thành một nền tín ngưỡng bản địa. Đối với người dân nơi nàỵ, Ông Trời là một đấng ở trên cao, thấu hiểu mọi việc, biết rõ người tốt kẻ xấu, từ đó mà phù giúp người hiền, trừng phạt kẻ ác. Quan niệm này khiến cư dân Giao Chỉ dễ tiếp nhận thuyết nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật. Ngoài Ông Trời, họ cũng quan niệm có những vị thần thánh khác như Thần Sấm, Thần Mưa… như là những thủ hạ của Ông Trời. Họ cũng coi Ma Xó là linh hồn của người chết còn tồn tại quẩn quanh trong nhà để phù trợ cho gia đình. Điều này làm cho họ cảm thấy dễ gần gũi khi thuyết luân hồi tiếp xúc với họ. Người Giao Chỉ cũng tin vào nguồn gốc con rồng cháu tiên của mình. Thêm vào đó, trong thời đại lịch sử này, người Giao Chỉ không hề là những tín đồ trung kiên của Khổng, Lão giáo, nên sự thâm nhập của Phật giáo không gặp phải sự cản trở có ý thức.

Sự hòa hợp giữa tín ngưỡng bản địa có sẵn với những sinh hoạt văn hóa, giáo lý cơ bản của Phật giáo đã hình thành nên một loại tín ngưỡng Phật giáo bình dân trong thế kỷ đầu tiên của công lịch.

Người Giao Chỉ xưa quan niệm Phật như là một vị Bụt (xuất phát từ “Buddha”), có phép thần thông, nghe và biết mọi chuyện như Ông Trời, nhưng Bụt không ở trên cao, mà thân cận với mọi người. Bụt hiện ra dưới nhiều hình thức để cứu người, giúp đời. Bụt thương người nhưng không trừng phạt kẻ ác như Ông Trời vẫn làm. Phép Bụt là biểu hiện của quan niệm về Pháp trong thời kỳ này. Đó là phép thần thông của Bụt. Mà cũng là những điều người ta làm theo nếu tin vào Bụt, như đọc tam quy, cúng dường, bố thí… Pháp cũng là niềm tin vào nghiệp báo, luân hồi, linh hồn bất diệt. Quan niệm về Tăng khi đó chỉ dừng lại ở tăng môn, chưa phải tăng đoàn. Đó là những tu sĩ khoác áo vàng. Đầu cạo trọc, rời bỏ gia đình, của cải, thờ Bụt, đọc kinh Phạn. Quan niệm về nghiệp báo, luân hồi là ở sự làm lành gặp lành. Người ta cũng quan niệm về từ bi, về công đức. Làm công đức cho kiếp sau được tốt đẹp là dâng thức ăn cho tăng môn, bố thí cho người nghèo khó. Quan niệm tiết dục cũng là ở chỗ bỏ bớt những hưởng thụ cho riêng mình, để cho người khốn khó.

Vào thế kỷ thứ hai, sự thâm nhập của Phật giáo đã ở vào một giai đoạn mới. Đã hình thành tăng đoàn, công việc hành đạo từ đó mà cũng đi vào tổ chức, các tăng sĩ bắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã được xây cất. Ở thế kỷ này, sự hành đạo cũng gặp một ít trở ngại từ phía những người ủng hộ Khổng, Lão. Tuy nhiên, điều đó không thể ngăn cản được ảnh hưởng của Phật giáo vì nó đã thâm nhập vào dân gian.

Tích Quang và Nhâm Diên là hai thái thú của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Hai người này đã đẩy mạnh việc truyền bá văn hóa Hán cả trong sinh hoạt kinh tế, phong tục tập quán, lẫn trong việc giáo dục, văn học. Đến đời thái thú Sĩ Nhiếp thì Hán học phát triển rất mạnh, nhưng chính điều này lại đóng vai trò lớn trong việc truyền bá tư tưởng, văn hóa Phật giáo. Việc ra đời của Lý hoặc luận, hay kinh Tứ thập nhị chương, những tác phẩm Phật học viết bằng Hán tự, là minh chứng cho điều này.

Những kinh điển đầu tiên được phiên dịch (như Tứ thập nhị chương) là đã nhắm vào người xuất gia, chứ không phải vào quần chúng Phật tử trong dân gian, do xuất phát từ một thực tế là sự du nhập và định hình Phật giáo giai đoạn này đã mang tính học thuật chuyên sâu hơn. Điều này cũng được thể hiện thông qua hệ thống quan niệm giáo lý đã mang nhiếu nét kinh kệ hơn trước.

Quan niệm về Phật thì vẫn nối tiếp tín ngưỡng bình dân về Phật trong thế kỷ trước, nhưng đã mang màu sắc Hán hơn khi những khái niệm của Khổng, Lão được đưa vào. Trong Lý hoặc luận, Phật đã được trình bày như nguyên tổ của Đạo và Đức nhưng vẫn mang màu sắc biến hóa thần thông. Về Pháp, giới Phật tử trí thức có cách quan niệm gần với “đạo” (sau thành “đạo pháp”). Trong giới Phật tử dân dã, pháp vẫn là phép Phật, là phép tam quy, ngũ giới, cúng dường. Tăng đồ thì coi đạo như lời Phật dạy về vô thường, vô ngã, cách giữ tâm gìn ý, tu chứng Niết bàn. Quan niệm về tăng là phải thực hiện 250 giới luật, cạo đầu, y vàng, từ bỏ tài sản, khất thực, hóa đạo. Ni giới chưa có vào lúc này.

Vào thời kỳ này, Niết bàn đã là mục đích của người xuất gia. Luân hồi và nghiệp báo vẫn tiếp tục tồn tại trong tín ngưỡng dân gian. Quan niệm vô ngã đã được nói đến trong Tứ thập nhị chương, nhưng chưa phổ biến lắm trong trong dân gian, có lẽ vì bị xem như mâu thuẫn với quan niệm linh hồn bất tử.

Tinh thần hòa đồng giáo lý là nét nổi bật trong sự du nhập và định hình Phật giáo Giao Châu trong thế kỷ thứ hai này. Phật giáo thâm nhập vào đây một cách êm thấm, không có sự chống đối của tín ngưỡng dân gian. Tuy Phật giáo cũng phải có một ít nỗ lực trước giới cai trị Hán tộc, nhưng không bằng sự phản kháng, mà bằng sự hòa đồng. Điều này xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật học, và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi, đối thoại với những tư tưởng khác. Kết quả của tinh thần này là không những đã sử dụng được từ ngữ Nho, Lão để truyền bá Phật giáo, mà còn làm cho nghững người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu của Phật học.


1.3. Sự du nhập từ Phật giáo phương Bắc

Từ thế kỷ thứ ba, Phật giáo tại Giao Châu vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sự xuất hiện của Tăng Hội (? - 280) và tư tưởng thiền của ông. Ông không những là sáng tổ của Thiền học Việt Nam, mà còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa (Tăng Hội đã ở trên đất Ngô từ năm 255 đến 280).

Thiền định Việt Nam, từ nguyên thủy vốn không phải được truyền từ Trung Hoa sang. Nó đã xuất hiện, dù có thể hoàn toàn là bước đầu, ở Giao Chỉ, từ trước Tăng Hội. Trong Tứ thập nhị chương, danh từ thiền định đã một lần được nhắc đến. Kinh này còn nói đến “quán thiên địa, niệm vô thường”, là một phép thiền, gọi là Vô thường quán. Nhưng dù sao, đến thế kỷ thứ ba, có lẽ đã có một thực tế là Phật giáo từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâm muộn hơn, cũng đã bắt đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ. Cho dù Tăng Hội có một vai trò lớn đến đâu thì sử sách cũng ghi nhận rằng trong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống, và Tăng Hội cũng là một người đã học tập, lĩnh hội được tư tưởng Phật giáo Đại thừa Trung Hoa.

Đại thừa (Mahayana) hoàn toàn không xa rời Phật pháp, nhưng về chủ trương, nó khác với Tiểu thừa (Hinayana) vốn xuất phát từ Phật giáo Nguyên thủy (Thérévada). Đại thừa không cố chấp vào kinh điển, trong khi Tiểu thừa thì phải nhất nhất bám sát vào đó. Đại thừa chủ trương “tự giác” và “giác tha”, tức giác ngộ cho chính mình và cho người khác, trong khi Tiểu thừa chỉ nhắm vào việc giác ngộ cho bản thân. Tiểu thừa chỉ thờ một Phật Thích Ca và bậc tu cao nhất là đến La Hán. Đối với Đại thừa, họ thờ nhiều Phật, và bậc tu cao nhất lên đến Bồ Tát. Có thể nói những quan niệm, chủ trương của Đại thừa - một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo (một tông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất phát điểm từ Trung Hoa, đã có một sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phương Nam kể từ thế kỷ thứ ba trở đi, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng như trong tín ngưỡng dân gian.

Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.

Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594), người sáng lập ra thiền phái mang tên ông, truyền đến 19 đời, đến đầu thế kỷ 13, là một người gốc nam Thiên Trúc, vân du về phía đông bắc (562), tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa và hành đạo tại đây, đến năm 580 thì vào nước ta.

Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ nội địa Trung Hoa xuống Giao Châu và sáng lập thiền phái này.
Sau này, vào thế kỷ 11, Thảo Đường vốn cũng là một thiền sư Trung Hoa đang hành đạo tại Chiêm Thành, bị quân chinh phạt của vua Lý Thái Tông bắt đem về Thăng Long. Sự uyên thâm Phật pháp của người này sau đó được nhận ra, được nhà vua đưa về trụ trì tại chùa Khai Quốc, và lập ra một thiền phái lớn của Phật giáo Việt Nam, thiền phái Thảo Đường.

Tuy nhiên, ở đây, khi nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, ta có thể xem việc này đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ 10, khi mà một mặt có sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương Bắc sau đó, mặt khác là sự sản sinh, hình thành nền thiền học Việt Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh. Từ đây đã tạo một tiền đề vững vàng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh điểm là giai đoạn thế kỷ 10 - 14.

2. Ảnh hưởng của Phật giáo lên xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử thế kỷ 10 – 14

2.1. Bối cảnh, diễn tiến lịch sử


Ở Trung Hoa, vào năm 618, Lý Uyên lên ngôi, lập ra nhà Đường, và từ đây lịch sử nước ta lại tiếp tục với 300 năm thuộc Đường. Sau các cuộc khởi nghĩa ở những thời kỳ trước, như khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-43), Lý Bí tuyên bố dựng nước Vạn Xuân (544), thời này các cuộc khởi nghĩa nhằm giành lại độc lập dân tộc vẫn tiếp tục nổ ra. Phùng Hưng khởi nghĩa năm 766-779, Dương Thanh năm 819-820. Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ (905) với kết quả là người phương Bắc mất quyền thống trị, nhưng họ Khúc cũng chỉ tự xưng là Tiết độ sứ, nhằm tạo một quan hệ an hòa với những kẻ thống trị cũ. Sự kiện này đã mở ra thời kỳ bắt đầu khôi phục nền độc lập.

Tháng 12 năm 938, Nam Hán lại một lần nữa dẫn đại binh bằng đường thủy tiến vào nước ta hòng khôi phục ách thống trị. Đội quân này đã chuốc lấy thảm bại trên sông Bạch Đằng trước tài mưu lược của Ngô Quyền. Đây xem như cột mốc chấm dứt hoàn toàn sự đô hộ của ngoại bang hơn 1.000 năm, mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài cho dân tộc.

Ngô Quyền xưng vương năm 939 và mất năm 944. Các con của Ngô Quyền không đủ khả năng cai trị một nhà nước trung ương tập quyền, loạn mười hai sứ quân diễn ra. Đinh Bộ Lĩnh là người đã quy giang san về một mối. Năm 968, ông lên ngôi, xưng hoàng đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng, lập nước Đại Cồ Việt. Nhưng chỉ mười năm sau đó, triều đình nhà Đinh lại xâu xé nhau trong khi nhà Tống ở phía bắc lại động binh nhắm về nam. Năm 980, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi, xưng là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê.

Tháng 4 năm 981, đại quân Tống bị đánh bại. Năm 982, Lê Hoàn chinh phạt Champa, giữ yên và củng cố biên giới phía nam.

Thời đại Đinh - Tiền Lê đã được tổ chức mô phỏng theo triều nghi nhà Tống, nhưng bộ máy còn rất sơ sài, chưa phải là một nhà nước phong kiến mực thước.

Năm 1005, Lê Hoàn mất, Lê Long Đĩnh lên ngôi cùng với sự cai trị tàn ác, sa đọa, không có khả năng dẫn dắt quốc gia. Lê Long Đĩnh mất năm 1009, cuộc vận động của quần thần và tăng sư sau đó đã đưa Lý Công Uẩn lên ngôi. Từ đây, thời kỳ của một nhà nước phong kiến có quy củ hơn bắt đầu.

Bộ máy chính quyền nhà Lý đã được xây dựng theo mô hình nhà Tống, chia cả nước làm hai mươi bốn lộ-phủ, dưới là huyện, hương. Bộ máy quân đội được xây dựng từ trung ương đến địa phương, có cả bộ binh và thủy binh. Nhà Lý cũng là vương triều Việt Nam đâu tiên ban hành luật thành văn, với việc ra đời của bộ Hình thư gồm hai mươi quyển vào năm 1042. Địa giới tiếp tục được mở rộng về phía nam.

Từ giữa thế kỷ 12, nhà Lý bắt đầu suy vong, các vị vua trẻ lao vào vui chơi, tửu sắc, gian thần lộng hành. Đầu thế kỷ 13 đã diễn ra hỗn chiến giữa các thế lực phong kiến địa phương, trong đó thế lực của Trần Tự Khánh là mạnh hơn cả. Và ông ta đã đem quân về Thăng Long. Sau khi Trần Tự Khánh chết, mọi quyền hành nằm trong tay Trần Thủ Độ. Năm 1225, con người này đã ép Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới bảy tuổi. Năm sau, Lý Chiêu Hoàng lại “nhường ngôi” cho chồng là Trần Cảnh, tám tuổi. Nhà Trần được lập nên từ đây.

Dưới nhà Trần, vương quyền càng được củng cố hơn, quan chế càng quy củ hơn. Hai mươi bốn lộ dưới thời nhà Lý, nay còn mười hai. Quân đội càng được xây dựng mạnh hơn, thiện chiến hơn. Một nền pháp luật hoàn chỉnh hơn cũng đã được xây dựng. Năm 1230, Trần Thái Tông san định Quốc triều thông chế gồm hai mươi quyển. Năm 1341, đã biên soạn Hoàng triều đại điển và khảo đính Hình thư. Xã hội đã có một thời kỳ thật sự cường thịnh.

Nhưng vào nửa sau thế kỷ 14, xã hội Đại Việt lại khủng hoảng. Triều đình rơi vào sa đọa, tham nhũng, tửu sắc, cờ bạc. Bên ngoài thì Champa lại gây hấn. Hồ Quý Ly, con rể của Trần Minh Tông dần nắm mọi chức vụ quan trọng, từng bước loại trừ, sát hại tông thất. Năm 1400, Hồ Quý Ly ép Trần Thiếu Đế nhường ngôi, lập nên nhà Hồ (1400-1407)


2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo lên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

2.2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo dười thời Đinh, Tiền Lê


Dưới chính sách đô hộ hà khắc của nhà Đường, việc học hành của quần chúng bị hạn chế, kẻ sĩ ngoài đời thì vốn đã không nhiều lại còn bị dòm ngó, răn đe. Vì thế, do vốn đã thâm nhập sâu trong đời sống dân gian, một cách tự nhiên, trách nhiệm xã hội được đặt lên vai giới tăng sĩ Phật giáo. Họ, ngoài việc hướng dẫn tinh thần, đạo đức, còn trực tiếp lo toan những công việc thuộc nhu cầu thực tế của dân chúng. Họ mở lớp dạy chữ ở chùa cho mọi con em, như trường hợp của Lý Công Uẩn đã từng nhận được sự giáo dục nơi cửa chùa. Chính tại đây họ đã nuôi dưỡng ý thức dân tộc, lòng yêu nước cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên, không để nó bị mai một, bị “mất gốc” sau hàng trăm năm Bắc thuộc. Họ không phải là những thầy lang nhưng lại có kiến thức y dược, trực tiếp chuẩn trị, hốt thuốc cho mọi người. Họ đứng ra làm các công việc cầu an, ma chay, chọn đất, chọn ngày cho việc xây cất, khai trương làm ăn… Giới tăng sĩ vốn là thành phần có học thức, lại không thuộc thành phần thống trị, gần gũi với dân chúng, nên có được sự cảm thông, chia sẻ nỗi khổ của người dân trong cảnh đô hộ. Và từ đó nhà chùa đã thực sự trở thành nơi hun đúc lòng yêu nước, một trung tâm của ý thức và niềm tin vào độc lập dân tộc, có sức ảnh hưởng rộng khắp trong dân gian. Ngay trong thời kỳ tiền độc lập, Phật giáo đã đóng một vai trò rất lớn về mặt tinh thần, ý chí trên bước đường đấu tranh của dân tộc.

Sau Ngô Quyền, các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý đã nỗ lực xây dựng một quốc gia độc lập về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, và đóng góp của Phật giáo trong buổi đầu này rất quan trọng.

Vào thời Đinh, Lê, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã truyền đến đời thứ 11, 12, và ảnh hưởng của họ trong dân gian vẫn rất mạnh. Những thiên chức xã hội mà nhà Phật đã gánh vác trong những thế kỷ vừa qua, nay vẫn tiếp tục. Mặt khác triều đình cũng biết trọng dụng họ, xem những cao tăng uyên bác như những cố vấn, có thể bàn luận, giải quyết những vấn đề chính sự.

Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi vốn mang nhiều yếu tố Mật giáo. Mật giáo quan niệm trong vũ trụ có một lực lượng siêu nhiên mà nếu biết sử dụng, người tu hành sẽ bước mau trên con đường thành đạo, có thể là tức thời. Mật giáo chú trọng cúng bái, thần chú, ấn quyết. Thêm vào đó, sấm vĩ, phong thủy cũng là một yếu tố của Phật giáo Việt Nam trong một thời kỳ dài. Sấm vĩ là sự suy trắc về tương lai trên cơ sở âm dương, ngũ hành tương khắc. Phong thủy là môn thuật xem xét địa thế trong tương quan với thành bại, vận mệnh của công việc, con người, quốc gia, trên cơ sở sự sắp xếp tinh tú trên bầu trời và “long mạch” trên mặt đất. Chính sự kết hợp của Mật giáo, sấm vĩ, phong thủy đã đẩy mạnh vai trò xã hội của Phật giáo trong những thế kỷ trước khi giành được độc lập, và ngay cả ở buổi đầu của kỷ nguyên này.

Sự thực hành, trì chú Mật giáo rất phổ biến ở thời Đinh và Tiền Lê. Vào năm 1965, tại làng Trường Yên thuộc kinh đô Hoa Lư cũ, đã tìm thấy một bia đá dựng vào năm 973, nhà Đinh, khắc những câu kệ và chú Đà La Ni. Cũng đã phát hiện một kinh tạng dựng năm 995 thời Lê Đại Hành, với một bài kệ có nhắc đến “Phật đỉnh Đà La Ni”.

Sách sử cũng ghi lại rằng thuở đầu lập quốc, các thiền sư đã mở những cuộc vận động gây ý thức quốc gia. Họ đã sử dụng những môn thuật sấm vĩ và phong thủy trong các cuộc vận động này, như “tuyên truyền” những sấm vịnh về nền độc lập dân tộc lâu dài, về vận số của một triều đại, về long mạch quốc gia và sự trù ếm nó của người Hán tộc phương Bắc nay đã được khai thông…

Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng đã - lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam - phân định giáo tầng cho tăng sĩ, và ban chức Tăng thống cho sư Ngô Chân Lưu của phái Vô Ngôn Thông. Thiền phái này chủ trương “đốn căn” ở những người có căn cơ lớn về trí tuệ và hành đạo, có thể đắc đạo nhanh, tức thời. “Tâm địa” là “nền đất” mà một khi tâm khai thông được thì trí tuệ giác ngộ tự nhiên xuất hiện. Vô Ngôn thông cũng chủ trương “vô đắc”, tức không chấp bản thân, mục đích giác ngộ hay là sự giác ngộ là gì. Ngô Chân Lưu trở thành Khuông Việt Đại Sư, và vua Đinh cũng đã chính thức xem Phật giáo như là những nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Cũng trong thế kỷ thứ 10, vua Lê Đại Hành đã mời các sư Pháp Thuận (? - 991), Vạn Hạnh (? - 1108) làm cố vấn chính sự. Cả Khuông Việt và hai vị sau đều tiếp tục giúp vua Lý Thái Tổ sau này.


2.2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời nhà Lý

Vào thời đại nhà Lý, Phật giáo vẫn tiếp tục giữ một vai trò rất lớn về mặt chính trị. Ngay điểm khởi đầu, tức là việc lập nên triều đại này, Phật giáo đã đóng vai trò quyết định.

Tuy đã giúp nhà Tiền Lê, nhưng trước tình trạng tệ lậu của quốc gia dưới sự cai trị của Lê Long Đĩnh, sư Vạn Hạnh đã không ngần ngại ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi, chấm dứt chế độ dã man của Lê Ngọa Triều, bằng một cuộc vận động quần chúng qua sấm truyền về vận mệnh dân tộc gắn với chữ Lý, vốn đã được nhà sư Định Không (? - 808) nói đến từ hai thế kỷ trước. Với việc Lý Công Uẩn xuất thân là một môn sinh của nhà chùa và vai trò của sư Vạn Hạnh, sẽ không ngoa khi nói rằng bước đầu dựng lên nhà Lý công đầu thuộc về Phật giáo. Sư Vạn Hạnh cũng là người được tin rằng đã thuyết phục Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long với ý nguyện bảo vệ lâu dài nền độc lập dân tộc.

Các tăng sư Phật giáo cũng trực tiếp tham dự chính sự qua việc trực tiếp thiết lập các kế hoạch, thảo văn thư, tiếp sứ thần, bàn luận cả những vấn đề về quân sự. Tuy can dự vào chính sự nhưng tăng sư Phật giáo không hề chủ trương tham gia chính quyền, nên sau đó, khi triều đình đã vững mạnh hơn, có thể tự mình gánh vác tất cả, thì họ lại tự nhiên lui về với chức năng vốn có của mình, là hướng dẫn tinh thần và đạo đức, lui về với việc tu đạo của mình khi nhiệm vụ đối với quốc gia, với quảng đại quần chúng đã hoàn thành.

Phật giáo thời Lý cũng có ảnh hưởng rất lớn lên văn hóa - nghệ thuật.

Về phương diện học thuật, Phật giáo Việt Nam giai đoạn này, mà chủ thể là các tăng sĩ, thiền sư, đã có công đào tạo một lớp trí thức có trình độ uyên thâm cả Phật, Nho, Lão, nhưng lại không cố chấp và biết dung hợp những dị biệt giữa ba hệ thức triết lý này. Nhiều thiền sư am tường cả tam giáo (Khuông Việt, Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Viên giác, Mẫn Giác…), và sẵn sàng truyền thụ cho các môn đệ những tinh túy của các quan niệm chính trị - xã hội của Nho giáo. Khi nghị bàn chính sự họ cũng sẵn sàng sử dụng lý luận Nho học. Kiến thức Nho được sử dụng theo tinh thần Phật giáo đã đóng góp khá nhiều cho học thuật và chính trị đời Lý.

Dưới sự tác động, hướng dẫn tinh thần của các thiền sư, Phật giáo dưới thời Lý đã tạo dựng một bản sắc văn hóa chính trị đầy tính nhân bản. Nhà Lý đã được xem như một triều đại thuần từ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Các vị vua của triều đại này có cuộc sống đạo đức và tâm linh. Đã không có cảnh tranh đoạt, bạo loạn, cực hình, mà thay vào đó bằng một đường lối chính trị khoan dung, độ lượng, từ bi với thần dân và với cả kẻ thù (vua Lý Thái Tông tha tội cho Nùng Trí Cao, vua Lý Thánh Tông không giết Chế Củ, vua Chiêm Thành). Xã hội vì đó mà bình an, phú cường, đoàn kết, tạo nên những chiến tích trước Chiêm Thành phía Nam và cả Tống quốc hùng mạnh phương Bắc.

Phật giáo giai đoạn này cũng có những đóng góp to lớn đối với sinh hoạt văn học. Văn học Phật giáo đã trở thành dòng văn học chủ đạo của thời này.

Những công trình kiến trúc và điêu khắc Phật giáo cũng đóng góp những giá trị mỹ thuật cho triều đại nhà Lý. Những công trình này giờ đây không còn lưu lại bao nhiêu, nhưng sử sách ghi lại là vào các triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông đã xây, lập rất nhiều chùa, điện, tháp, tiến hành đúc, vẽ nhiều tượng, tranh Phật. Những công việc này không phải chỉ nhằm cho hoàng tộc, mà ở khắp nơi trong dân chúng. Một công trình nhà Lý mà nay vẫn là một trong những biểu tượng của dân tộc Việt, chính là Chùa Một Cột, được xây từ năm 1049, khi đó gọi là Chùa Diên Hựu.

Tuy nhiên, sức ảnh hưởng của Phật giáo lên đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần vào thời nhà Lý được cho là có quá nhiều màu sắc mê tín. Có lẽ nhận định như vậy có phần hơi khắt khe. Cho dù có những yếu tố Mật giáo, sấm vĩ, phong thủy, nhưng đây lại là những cái đã góp phần không nhỏ cho vị trí của dân tộc Việt kể từ thời nhà Đinh đến lúc đó, và tính mê tín của nó thật ra cũng không bằng ở giai đoạn suy đồi của Phật giáo như vào thời Lê Sơ hay thời Pháp thuộc.


2.2.3. Ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời Trần

Sự ảnh hưởng của Phật giáo dưới đời nhà Lý vẫn được tiếp tục dưới đời Trần.


Vào đầu thế kỷ 13, đã có sự dần dần sáp nhập vào với nhau của ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Thiền phái Yên Tử từ đây mà hình thành. Thiền phái này sau đó, dưới sức ảnh hưởng rất lớn của vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, đã có một bước phát triển lớn, trở thành thiền phái Trúc Lâm - thiền phái duy nhất dưới đời nhà Trần. Có thể nói, thời đại nhà Trần là thời đại Phật giáo nhất tông, mà thiền sư Hiện Quang (? - 1221), tu đạo tại núi Yên Tử, là vị khai tổ của sự nhất tông này.

Vua Trần Thái Tông (1218-1277) không nằm chính thức trong tông phả của Trúc Lâm, nhưng có nhiều cơ duyên với Phật giáo, với thiền phái này. Ông đã tự tu học Phật đạo và để lại nhiều tác phẩm Phật học có giá trị.

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) lại là một chân truyền chính thức đời thứ sáu của Yên Tử, ông xuất gia năm 1299, sau 21 năm làm vua, lấy hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà [3] . Ông là người có công đầu trong việc xây dựng một giáo hội hoàn toàn thống nhất, chính thức dựng nên thiền phái Trúc Lâm chủ trương nhập thế.

Tư tưởng Phật học của thiền phái Trúc Lâm có thể có những biến thể ít nhiều khác nhau, trình bày khác nhau, nhưng tựu trung có thể xem tư tưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ, là điển hình nhất, độc đáo nhất. Người này đã phát triển học thuật của Yên Tử theo khuynh hướng thực chứng, không cố chấp vào kinh kệ, điển tự. Ông quan niệm giáo lý, việc học đạo không phải ở lý thuyết, mà là ở tồn tại của chính mình, hãy quay về chính bản thân mình, không phải đi tìm kiếm ở Phật tổ. Ông nổi tiếng ở những quan niệm trái ngược với thái độ cả chấp, như từng giảng rằng “sắc chẳng phải không, không chẳng phải sắc”. Ông cũng phê phán rằng khi đặt ra vấn đề giải thoát chính là đã dựng lên ranh giới giữa phiền trượt và giải thoát, giữa mê và ngộ, giữa phàm và thánh, giữa sinh tử và niết bàn. Chính sự “nhị kiến”này làm ta bị bó buộc vào vòng sinh tử, khiến người ta mãi mãi là kẻ phàm nhân. Ông cũng đả kích sự cả chấp trong việc thực hành trì giới. Theo ông, sự siêu việt vượt lên trên tội - phúc khi trì giới là ở chỗ không có sự ràng buộc vô ích vào nó. Với những quan niệm như vậy, quả thật vị thiền sư này đã khai mở một đường hướng mới sâu sắc, uyên thâm đích thực trong Phật học Việt Nam.

Trong buổi đầu nhà Lý, các thiền sư còn can dự trực tiếp vào công việc chính sự. Triều đình cần đến sức học, tài ngoại giao, khả năng giáo dục, sự liên kết nhân tâm của họ. Nhưng đến đời Trần, tình hình đã khác đi. Các vua Trần là những người có tri thức, lại uyên bác Phật học. Nhưng dù vị trí trực tiếp trong công việc chính sự của các tăng sĩ không còn nữa, Phật giáo lại vẫn phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết, ảnh hưởng trực tiếp lên chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội đời Trần, trở thành một tinh thần dân tộc thời bấy giờ.

Với sự việc vua Trần Thái Tông chuyên tâm học Phật, vua Trần Nhân Tông xuất gia, xây dựng thiền phái Trúc Lâm, anh vợ của vua Trần Thánh Tông thì trở thành Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Anh Tông cũng có chủ đích tu đạo sau khi nhường ngôi (nhưng chưa kịp thì băng hà), Phật giáo thật sự trở thành một thế lực tinh thần ủng hộ cho chính trị, và ngược lại, triều đình là một quyền lực củng cố cho Phật giáo. Có thể giai đoạn Nhân Tông là giai đoạn Phật giáo hưng thịnh cực độ ở nước ta.

Phật giáo Trúc Lâm chủ trương nhập thế, đạo Phật phụng sự đời sống, đời sống tâm linh giải thoát đời sống xã hội, Phật giáo đời Trần thật sự tạo nên một sự thống nhất chính trị, thống nhất tinh thần dân tộc trên phương diện quốc gia một cách rộng khắp. Yếu tố liên kết nhân tâm của Phật giáo Trúc Lâm đã khiến thời kỳ này có một nền tảng chính trị bình dị, dân chủ, thân dân. Một tiếng “đánh” đồng lòng của Hội nghị Diên Hồng và ba lần liên tục đánh bại quân xâm lược nhà Nguyên, chính là thể hiện sự thống nhất dân tộc trên tinh thần Phật giáo.

Về phương diện văn hóa, Phật giáo giai đoạn này cũng là yếu tố chủ lực, quyết định. Cuộc đời tu học của Trần Thái Tông đã tạo ra một không khí học Phật thật sự trong giới trẻ, trí thức ở Thăng Long và trong cả nước. Tấm gương thành đạt trong Phật học của Thánh Tông và Tuệ Trung khi còn trẻ cũng là một động lực cho việc này.

Phật giáo đời Trần mang một tinh thần khoan dung và tự do. Chính đều này gây dựng nên những nét văn hóa xã hội, văn hóa dân tộc vào thời kỳ này. Phật giáo không chỉ trích Nho, Lão, mà để cho các giáo lý này tự do phát triển. Trong không khí học tập tự do và cởi mở, triều đình đãi ngộ hiền sĩ một cách kính cẩn, đã phát triển sự học lên rất nhiều, và cũng nhiều người tài giỏi xuất hiện. Chính từ tinh thần dung hợp và khai phóng này của Phật giáo mà nền học vấn thời Trần không bị ràng buộc bởi khoa cử, thực hiện chính sách tự do tôn giáo, không phân biệt sĩ phu được đào tạo từ truyền thống giáo lý nào. Điều đó đã xây dựng nên một nền văn học rạng rỡ và đầy ý thức tự tin. Thi ca thời Trần vì thế mà mang ảnh hưởng sâu đậm của thiền học, thi sĩ nhìn sự việc bằng con mắt của người biết tĩnh tâm thiền quán.

Sinh hoạt Phật giáo cũng là một nét đáng kể trong đặc điểm văn hóa thời kỳ này. Việc vua Nhân Tông - người đã đánh bại quân Nguyên, đem thịnh trị, an bình về cho xã tắc - xuất gia, khiến cả nước hướng về ngọn núi Yên Tử, việc tu luyện Phật pháp thật sự sôi nổi trong nước. Chùa, tháp mọc lên khắp nơi, khiến Nho gia Lê Bá Quát đã than rằng dân chúng chỉ lo lập chùa mà không lo lập trường học, văn miếu. Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thì nói “số người cắt tóc làm tăng ni cũng bằng nửa số dân thường” [4] . Tất nhiên thực tế khó mà đến mức như vậy, nhưng điều đó cho thấy tầm mức quá sức rộng lớn của sinh hoạt Phật giáo lúc đó, đến nỗi, ý thức được nguy cơ tăng sĩ quá đông mà không thủ trì nghiêm túc giới luật sẽ dẫn đến suy vong của chính giáo hội, phái Trúc Lâm đã in Tứ thần luật và tổ chức học tập cho giới tăng sĩ về giới luật, định ra những quy chế rõ ràng trong việc tổ chức, sinh hoạt, quản lý giáo hội.

Vào thời này nhà chùa cũng đã thực sự trở thành một lực lượng kinh tế. Điều này cũng dễ hiểu trước sự ủng hộ của triều đình và thế lực chính trị, xã hội, tinh thần của Phật giáo. Chùa chiền khắp nơi đã chiếm hữu nhiều ruộng đất. Sử sách còn ghi lại là ruộng đất được dâng tặng rất nhiều cho các chùa Báo Ân, Quỳnh Lâm, Sùng Nghiêm, Vĩnh Nghiêm, Thanh Mai, Côn Sơn, là những chùa lớn thời đó. Riêng chùa Quỳnh Lâm đã có hơn 1.000 mẫu đất và có tới 1.000 người làm ruộng. Lợi tức thu được từ đây có lẽ đã được sử dụng vào Phật sự và tăng sự của toàn giáo hội.

Phật giáo Trúc Lâm đạt đến đỉnh điểm là vậy, nhưng đến sau đời sư Huyền Quang (1254-1334), nó không còn hưng thịnh nữa. Điều này không thể giải thích chỉ bằng sự ra đi quá sớm của vua Anh Tông trước khi thực hiện ý định xuất gia. Cũng không thể cho là do sự yếu kém của Huyền Quang, người nhận nhiệm vụ lãnh đạo giáo hội khi ở vào tuổi 77, cũng không phải là sự bất lực của An Tâm, người kế vị Huyền Quang. Có lẽ sự đi xuống này cần được giải thích từ nguồn gốc sâu xa trong những vấn đề xã hội của Phật giáo. Có thể thấy là khi nền độc lập quốc gia đã trở nên vững vàng, việc củng cố quyền lực thống trị của mọi triều đại là không thể tránh khỏi. Từ đây nảy sinh việc tìm kiếm, xây dựng một ý thức hệ làm nền tảng. Nhà Trần cũng không tránh khỏi điều này, và ý thức hệ này vốn đã có sẵn, đó chính là Nho học. Nho giáo đã dần hưng thịnh lên, việc học Nho và các quan Nho ngày một nhiều, và xã hội đã bắt đầu phân hóa do vấn đề ý thức hệ. Các Nho thần quan niệm chỉ có Nho giáo mới là đạo thánh nhân, còn Phật giáo thì chỉ có hại cho quốc gia. Hơn nữa, đối với bản thân Phật giáo thời này, khi mà một giáo hội dựa quá nhiều vào sự ủng hộ của triều đình mà quên đi thế đứng thật sự cần được cắm sâu trong dân gian, sự suy giảm của nó là sẽ đến lúc không thể tránh khỏi.


*

Tóm lại, sau thời kỳ đầu du nhập ở thế kỷ thứ nhất và thứ hai, trực tiếp từ nguồn gốc Ấn Độ, điều đã cho phép sự phát triển Phật giáo rất sớm ở Việt Nam, vào những thế kỷ sau, Phật giáo Việt Nam đã có sự giao tiếp với Phật giáo Trung Hoa, tiếp nhận những thâm nhập mới. Trong giai đoạn du nhập, Phật giáo Việt Nam đã bước đầu tự hình thành nên tư tưởng thiền định đầu tiên. Cùng với sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó, các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh của một dân tộc bị đô hộ, nhà chùa Phật giáo đã tự nhận lấy cho mình trách nhiệm chăm lo đối với dân chúng. Họ, những sư sãi Phật giáo, đã nhận phần công việc dạy học, hốt thuốc, trị bệnh, ma chay, tế lễ, định việc xây cất, làm ăn… cho mọi người, và bao trùm lên tất cả, là sự hun đúc một tinh thần độc lập dân tộc. Chính là từ chỗ tinh thần về một nền độc lập đó vẫn tồn tại, nên cho dù đã 1.000 năm bị đô hộ mà Đinh Bộ Lĩnh đã có thể hoàn tất việc xây dựng một triều đại độc lập đầu tiên sau ách thống trị phương Bắc. Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần, dù các tăng sĩ chỉ can dự trực tiếp vào chính sự ở giai đoạn đầu, nhưng vị trí, vai trò của Phật giáo đã ngày càng phát triển, đạt đến độ cực thịnh vào thời Trần, và chỉ suy thoái từ nửa sau thế kỷ 14.

Sự phát triển của Phật giáo trong những thời kỳ lịch sử này, với tinh thần nhập thế thể hiện ở những mức độ khác nhau, không hề đứng trên tư tưởng thống trị, quyền lực và quyền lợi, Phật giáo đã thực thi một tinh thần khoan dung, độ lượng, hòa hợp đối với dân chúng, đối với kẻ địch, và cả đối với những tư tưởng-giáo lý khác. Những điều này không những làm cho Phật giáo đứng ở trung tâm của hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội giai đoạn thế kỷ 10 - 14, thậm chí có những lúc là quyết định vận mệnh quốc gia (trường hợp Lý Công Uẩn lên ngôi), mà đối với bản thân, nó đã xây dựng cho mình một tư tưởng Phật giáo, một giáo hội Phật giáo Việt Nam độc lập, mang bản sắc riêng, và lớn hơn thế nữa, nó còn tạo nên bản sắc văn hóa, bản sắc chính trị trong giai đoạn lịch sử này, tạo nên bản sắc của dân tộc ta khi đó. Sự đi xuống của Phật giáo sau đó, từ nửa sau thế kỷ 14, là một điều hoàn toàn hợp tính quy luật, khi mà một hệ tư tưởng tôn giáo không còn có sự ủng hộ của những quyền lực thế tục. Nhưng dù vậy, tinh thần hòa hợp Phật giáo - dân tộc đó mãi mãi là một trong những trang sử đậm nét nhất của dân tộc ta.


[1]Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, in lần thứ 3, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1992
[2]Khi đó ở Đông Hán, Lão giáo còn mang nhiều yếu tố thần tiên. Câu chuyện “hóa Hồ” cho rằng Lão Tử sau khi biệt tăm ở miền Tây đã sang Hồ (Ấn Độ) và giáo hóa, chinh phục người Hồ, và chính ông trở thành… Phật Thích Ca.
[3]Khác với thiền sư Viên Chứng hiệu là Trúc Lâm, đời thứ hai của Yên Tử, được phong quốc sư vào khoảng năm 1248.
[4]Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo Sử luận, in lần thứ 3, Nxb Văn hóa, HàNội, 1992, tr. 469, 470

Một nữ giám đốc cao quý gặp phải một “ông lão quét rác”, lại vì một câu nói của ông mà khiến cho người này mất việc, nguyên do chỉ bởi một thói quen không nên có của con người.

Quý bà sang trọng và ông lão quét rác

Một người phụ nữ hơn 40 tuổi sang trọng quý phái dẫn theo đứa con trai đi đến hoa viên ở lầu dưới một cao ốc, vốn là tổng bộ xí nghiệp nổi tiếng tại Thượng Hải, ngồi xuống một chiếc ghế dài ăn đồ.

Một lúc sau, người phụ nữ vứt một mẩu giấy vụn xuống đất, cách đó không xa có một ông lão đang quét rác, ông không nói lời nào, đi đến lượm mẩu giấy đó lên, và bỏ nó vào trong thùng rác bên cạnh.

Lại qua một lúc nữa, người phụ nữ lại vứt một mẩu giấy nữa. Ông lão một lần nữa lại đi đến nhặt mẩu giấy đó lên bỏ vào trong thùng rác. Cứ như vậy, ông lão đã lượm ba lần liên tục.


Người phụ nữ chỉ vào ông lão, và nói với cậu con trai mình rằng: “Đã nhìn thấy chưa, con bây giờ nếu không cố gắng học hành, tương lai sẽ giống như ông ta, chẳng có tiền đồ gì cả, mà chỉ có thể làm cái công việc thấp kém này thôi!”.

Ông lão nghe xong liền buông cây chổi xuống, đi đến nói: “Chào cô, nơi đây là hoa viên tư gia của tập đoàn này, cô đã vào đây như thế nào vậy?”.

Người phụ nữ trung niên cao ngạo nói: “Tôi là giám đốc bộ môn vừa mới được tuyển vào đây”.

Lúc này, một người đàn ông vội vàng đi đến, rất mực cung kính đứng trước mặt ông lão. Nói với ông lão rằng: “Tổng giám đốc, hội nghị sắp bắt đầu rồi!”.

Ông lão nói: “Tôi đề nghị hãy cách chức người đàn bà này ngay lập tức!”.

Người đó luôn miệng nói: “Vâng, tôi sẽ lập tức làm theo chỉ thị của ngài!”.

Ông lão dặn dò xong, liền đi thẳng đến chỗ cậu bé, ông đưa tay sờ sờ đầu của cậu, nói một cách ngụ ý sâu xa rằng:
BcKCN8

“Ông mong cháu hiểu rằng, điều quan trong nhất trên đời này là cần phải học biết tôn trọng mỗi người và thành quả lao động của họ”.

Người phụ nữ trung niên sang trọng đó kinh ngạc đến ngây người trước sự việc diễn ra trước mắt.

Một lúc sau bà vẫn ngồi liệt trên chiếc ghế dài, nếu như biết đó là tổng giám đốc thì nhất định bà sẽ không có cái thái độ vô lễ đến như vậy.

Nhưng bà đã làm rồi, hơn nữa còn làm trước mặt của tổng giám đốc đang trong thân phận một người làm vườn. Tại sao vậy? Lẽ nào là bởi sự sang hèn của thân phận chăng?

Tôn trọng mỗi một người, chớ lấy thân phận mà phân biệt, đây là thói quen của bạn, vốn là điều không thể giả được, nó sẽ luôn để lộ ra một mặt chân thật trong nhân cách của bạn.

Tài sản là thứ không vững bền, học được cách tôn trọng mới là tài sản của một đời vậy. Đó mới là cảnh giới cao nhất của đời người.

Tiểu Thiện, dịch từ Cmoney.tw
Chủ nhật, 27 Tháng 11 2016 00:39

Vật lý - Phật học - Vũ trụ

Đã có những nhà thiên văn nêu lên vấn đề, “Ai” đã điều chỉnh vũ trụ một cách tinh tế như vậy, nếu không phải là một Đấng Sáng tạo? Quan niệm này không tương hợp với vũ trụ quan cuả Đạo Phật, bởi vì Phật giáo không yêu cầu có “bàn tay” của Thượng Đế tạo ra vũ trụ - Bài viết của nhà thiên văn học, GS Nguyễn Quang Riệu.

Trong những năm gần đây, phong trào Phật giáo được phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, một phần là nhờ tinh thần cởi mở ít tính giáo điều của Phật giáo. 

Người phương Tây thường coi Phật giáo là một ngành triết học. Thiên văn học nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ, sự sinh tử của những vì sao và nguồn gốc của sinh vật trên trái đất, thậm chí cả khả năng có sự sống trên những hành tinh khác.


Do đó thiên văn học là một đối tượng hấp dẫn đối với các nhà Phật giáo, các nhà siêu hình học và triết học...

Những lý thuyết của ngành vật lý hiện đại cùng những kết quả quan sát bầu trời bằng những kính thiên văn ngày càng lớn giúp các nhà thiên văn đi ngược dòng thời gian để phỏng đoán những sự kiện xẩy ra từ khi vũ trụ mới ra đời từ vụ nổ Big Bang, cách đây đã khoảng 14 tỷ năm.

Những nhà khoa học của trường phái chống thuyết Big Bang cho rằng sự khai sinh vũ trụ qua một vụ nổ ám chỉ sự can thiệp của một Đấng Sáng tạo Tối cao nên đối với họ, thuyết Big Bang có xu hướng thiên về tôn giáo.


Bởi vì theo Kinh thánh của đạo Thiên Chúa, thế giới muôn loài đều do Thượng Đế tạo ra chỉ một lần cho mãi mãi. Còn các nhà khoa học của thuyết Big Bang nhận định là nếu những hằng số cơ bản trong vũ trụ nguyên thủy, hiện vẫn được dùng trong ngành vật lý, chỉ thay đổi đôi chút, thì quá trình tiến hóa của vũ trụ có thể đã dẫn đến một thế giới khác hẳn, có khả năng không có loài người chúng ta ở trong.

Đã có những nhà thiên văn nêu lên vấn đề, “Ai” đã điều chỉnh vũ trụ một cách tinh tế như vậy, nếu không phải là một Đấng Sáng tạo? Quan niệm này không tương hợp với vũ trụ quan cuả Đạo Phật, bởi vì Phật giáo không yêu cầu có “bàn tay” của Thượng Đế tạo ra vũ trụ.

Trên phương diện khoa học, hiện nay dường như hầu hết các nhà thiên văn đều tin vào thuyết Big Bang, vì thuyết này giải thích được nhiều hiện tượng trong vũ trụ.

Ngày xưa ở phương Tây, người ta coi thế giới của loài người là duy nhất và nhân loại là độc nhất trong vũ trụ. Khoa học đã chứng minh quan niệm một thế giới địa tâm, coi trái đất và con người là trung tâm vũ trụ là không đúng.

Quan niệm của Phật giáo là có nhiều thế giới, con người là những tiểu vũ trụ của một đại vũ trụ trong hằng hà sa số những đại vũ trụ. Các nhà khoa học cũng cho rằng, về mặt lý thuyết, trong vũ trụ có rất nhiều hành tinh trên đó có thể có nhiều nền văn minh mà các nhà thiên văn trên trái đất chưa phát hiện được.

Tuy nhiên, sự phát hiện những nền văn minh siêu việt trong vũ trụ là một vấn đề rất nan giải, bởi vì khoảng cách của những hệ sao có khả năng chứa những nền văn minh đó quá lớn, nên ánh sáng và tín hiệu vô tuyến phải mất hàng vạn năm mới truyền tới trái đất.

Nhà bác học Fermi khi đến thăm Trung tâm Nguyên tử Los Alamos (bang New Mexico, Hoa Kỳ) và đàm thoại với các nhà vật lý có đặt một câu hỏi: trong vũ trụ bao la có hằng hà sa số những hệ sao và hành tinh, hẳn phải có những nền văn minh siêu việt có khả năng kỹ thuật đủ cao để đến thăm nhân loại trên trái đất hay liên lạc với chúng ta bằng tín hiệu vô tuyến.

Nhưng bởi vì chưa ai nhìn thấy mặt họ và chưa ai bắt được tín hiệu của họ, thế thì họ ở đâu? Sau này, câu hỏi có vẻ ngây thơ cuả nhà vật lý Fermi được đặt tên là “nghịch lý Fermi”. Hiện nay, săn tìm trong Ngân hà các hành tinh tương tự như trái đất, có khả năng có sự sống, là một đề tài ưa thích đối với các nhà thiên văn.

Phật giáo quan niệm tất cả những gì trên thế gian này đều vận hành, biến dịch liên tục và liên hệ với nhau, không có gì là độc lập, không có gì là thực tại.

Quan niệm này cũng được phổ biến trong khoa học. Những nghiên cứu thiên văn cho rằng mặt trời, trái đất và các hành tinh đều được sinh ra từ một đám mây đầy khí và bụi, cách đây 4,6 tỷ năm. Các thiên thể trong vũ trụ chuyển động không ngừng.

Trái đất quay xung quanh mặt trời với tốc độ mười vạn kilômét/giờ. Mặt trời, trái đất và các hành tinh cũng bị lôi cuốn quay xung quanh tâm của Ngân hà với tốc độ một triệu kilômet/giờ. Ngân hà cũng đang lùi ra xa các thiên hà láng giềng với tốc độ hàng chục vạn kilômet/giờ. Trong vũ trụ, không có gì ở trạng thái tĩnh cả.

Các nhà vật lý quan niệm thành phần cơ bản nhất của vật chất là những hạt nhỏ li ti. Những “hạt cơ bản” vi mô này không nhìn thấy bằng mắtthường và tràn ngập vũ trụ nguyên thủy.

Trên trái đất chúng xuất hiện trong giây lát trong những máy gia tốc, khi những hạt electron hay proton va chạm vào nhau với tốc độ cao xấp xỉ tốc độ ánh sáng.

Trong những năm gần đây, những lý thuyết vật lý đề nghị trong vũ trụ còn có những “dây” vật chất nhỏ hơn cả hạt cơ bản. Khi dây vũ trụ rung như những dây đàn thì tạo ra những loại hạt vật chất khác nhau. Trên thực thế, đối với phàm nhân thì những hạt và dây vật chất chỉ là những vật ảo.

Ta không khỏi không nghĩ tới khái niệm “vô thường”, “vô ngã” trong đạo Phật, coi sự vật trên thế gian chỉ là ảo. Những hiện tượng và sự vật không phải là những thực thể độc lập, nhưng phụ thuộc vào nhau theo luật “nhân duyên”.

Tuy nhiên, sự tương đồng giữa Phật giáo và khoa học phải được hạn chế trong phạm vi tư tưởng triết học đối với thế giới tự nhiên. Còn những kết quả khoa học liên quan đến vũ trụ phải được dựa trên những định luật vật lý và sự quan sát bằng những công cụ thiên văn hiện đại.

Cách tiếp cận những hiện tượng trong vũ trụ đối với Phật giáo và khoa học có thể song song với nhau, nhưng không nhất thiết trùng hợp với nhau. Khoa học dùng những lý luận duy lý để tìm chân lý còn Phật giáo dùng tư duy đạo đức và triết học để đạt giác ngộ và giúp nhân loại diệt khổ.

Tuy nhiên, Phật giáo và khoa học không phải là không tương hợp với nhau, một Phật tử có thể là một nhà khoa học chân chính. Nhưng nếu muốn dựa vào khoa học để giải thích những hiện tượng siêu hình có lẽ là không thực tế.

GS Nguyễn Quang Riệu (Tạp chí Tia Sáng)

Thế giới ngày nay đang làm sáng tỏ với tốc độ nhanh chóng những gì còn khuất lấp tồn tại hay không tồn tại của vũ trụ, càng làm sáng tỏ thêm sự tương đồng của thế giới quan Phật giáo với thế giới quan vũ trụ thời hiện đại

Phật giáo trên thế giới ra đời đã trải qua hơn 2500 năm tính từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh tại Ấn độ. Trải qua hơn 2500 năm, dù có những lúc thăng trầm, nhưng cho đến tận xã hội hiện đại ngày nay, vẫn không ngừng phát triển, với hơn 700 triệu tín đồ trên khắp hành tinh, đã có những lúc Phật giáo đứng trước đại nạn diệt vong, điển hình như cuộc chinh phạt của Hồi giáo ở Ấn Độ thế kỷ XII sau Công nguyên, thế nhưng đạo Phật đã kịp lan rộng xuôi dòng Mêkông lan khắp châu Á, rồi thậm chí ngày nay đang lan rộng ra châu Âu, châu Mỹ, tới các nền văn minh thời hiện đại ở các nước phát triển.

Dưới con mắt của cư dân hành tinh trái đất thời hiện đại, nhiều người có những cái nhìn sai lệch về đạo Phật, có người coi Phật giáo như một khoa học, có người coi Phật giáo là một tôn giáo thần quyền...nhưng xét về tổng thể, Phật giáo không phải là một khoa học, đạo Phật cũng không phải là một tôn giáo thần quyền như người ta thường nghĩ, thực tế thì Phật giáo đã vượt lên trên khoa học, vượt qua nhận thức nhân sinh quan của một tôn giáo. 

Đối với những người chưa nghiên cứu, hiểu thấu Phật giáo, thường nhìn nhận Phật giáo dưới góc nhìn đơn lẻ của một sự vật, một hiện tượng cá thể để suy xét, đánh giá về Phật giáo theo một triết lý hoặc một khoa học vật chất, tâm linh cá biệt, còn những người chưa nắm rõ giáo pháp (mê mờ chánh kiến) thì tôn sùng Phật giáo như một tôn giáo thần quyền, mê tín dị đoan, chỉ có những người thực sự có tâm tìm hiểu, nghiên cứu, sẽ gạt bỏ những mê mờ chánh kiến, nhìn nhận Phật giáo với một thế giới quan tổng thể, chiêm nghiệm Phật giáo một cách nghiêm túc, tìm ra cái sự thật đằng sau sự ra đời và giáo lý nhà Phật, để từ đó nỗ lực dọn dẹp, mở lộ, phát quang sạch sẽ con đường chân lý mà đức Phật đã chỉ ra hơn 2500 năm qua.
Trên thế giới chỉ duy nhất Phật giáo được sáng tạo ra bởi con người thật bằng xương bằng thịt, đó là đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, ngài hiện thân là Thái tử con vua nước Tịnh Phạn, thuộc Ấn Độ ngày nay, là người được được truyền kế vị ngôi báu trong hoàng tộc, nhưng với lòng vị tha thương yêu con người tha thiết, hàng ngày ngài phải chứng kiến những cảnh khổ ải của con người, Ngài đã quyết tâm rời bỏ ngôi báu ra đi tìm con đường diệt khổ chốn nhân gian, trải qua thời gian dài tu hành khổ hạnh, sau khi ngồi nhập định dưới cội cây bồ đề 49 ngày đêm, ngài chợt bừng tỉnh giác ngộ (Khoa học ngày nay gọi là đốn ngộ, hoặc tự thân khai sáng), sau đó ngài bắt đầu con đường truyền bá Phật pháp, từ đó đã trải qua hơn 2500 năm, Phật giáo vẫn trường tồn hiện hữu như một phần không thể tách rời của thế giới.

Khoa học hiện đại ngày nay dù đã rất phát triển nhưng mới chỉ hé lộ một phần khía cạnh của Phật giáo, Phật giáo rộng hơn nhiều và đã đi trước khoa học khá xa. Trong một bài viết khá hạn hẹp, tôi không có ý phản bác lại khoa học hiện đại hay bênh vực đạo Phật mà chỉ hi vọng từ ánh sáng khoa học hiện đại để làm rõ thế giới quan Phật giáo, để ta có cái nhìn đúng đắn về Phật giáo, từ đó có định hướng ứng xử đúng đắn về nhận thức và hành động trong đời sống xã hội. Với những người chưa từng nghiên cứu Phật pháp, rất mong quí vị cố nhẫn nại suy ngẫm sự so sánh sự tương đồng giữa thế giới quan khoa học và thế giới quan Phật giáo trong một bài viết hạn hẹp, những diễn giải về luận thuyết, câu chữ, kinh kệ trong Phật giáo có đôi chút trừu tượng, khó hiểu, những nếu lắng tâm để ý kỹ thì ta sẽ nhận ra sự trùng khớp dù đôi khi sự so sánh có mang tính chất ước lệ bởi giáo lý nhà Phật hướng tới sự khai tâm, còn khoa học mang tính biện chứng cụ thể chi tiết.

Thế giới quan Phật giáo xoay quanh một chữ TÂM. Thường ngày chúng ta hay nói rằng tôi có tâm, anh có tâm, tâm tốt, tâm xấu, hay tâm tình, tâm sự...theo Phật giáo, những thuật ngữ đó chỉ là Pháp thế gian, là sự giả tạm không thật, chữ TÂM trong nhà Phật thể hiện vũ trụ quan nhất thể thường hằng không biến đổi, đó là chữ KHÔNG trong kinh Bát Nhã, TÂM là thể hiện bản thể tính KHÔNG trong cách diễn giải thế giới quan Phật giáo, theo đó mọi vật, mọi hình tướng, mọi sự trong vũ trụ và trên thế gian từ kiếp vô thỉ (vô lượng) đều không tự sinh và cũng không tự diệt, nó sinh diệt, biến đổi là do duyên khởi, còn bản tính của nó tự không (Đọc 12 nguyên lý duyên khởi của Đức Đại lạt Ma 14 ta thấy rõ điều này), trên thế gian này, phàm những cái gì được định hình nên, có hình có tướng hoặc không hình tướng nhưng khởi niệm lên, đều là giả tạm, không có tính thật có. 

Lục tổ Huệ Năng có một bài kệ như sau:

Bồ đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài
Xưa nay không một vật
Cái gì dính bụi bặm.

Câu xưa nay không một vật như một quả bom nổ trong pháp môn thiền tông thời bấy giờ, nó thể hiện rõ bản thể không trong vũ trụ quan phật giáo, ở đây ta phải hiểu nhà Phật nói KHÔNG tức là nó không có tính thật có vì, nếu có là do duyên khởi định tính (khái niệm, định nghĩa...), nếu không là nó là tương đối, là  giả tạm không có thật, nếu ta chấp vào có định tính, không phủ nhận thì sẽ rơi vào chấp cái có và chấp cái không, sẽ không thấy bản TÂM của nhà Phật.

Theo "Bát nhã tâm kinh giảng giải" của Thiền sư Thích Thanh Từ, ngài có đưa ra một ví dụ về chữ KHÔNG tự tính để nói về bản thể TÂM như sau: Nếu nhìn một bàn tay của ta, ta bảo nó là một cái bàn tay, sự thực nó không phải là cái bàn tay, bảo nó là bàn tay là do ta lập tướng lên để định danh tương đối, nếu xét kỹ, bàn tay do các ngón và lòng bàn tay tạo thành, vậy ta bảo ngón tay hay lòng bàn tay...là bàn tay, nếu tách rời chúng ra chúng còn gọi là bàn tay nữa không, nếu bảo ngón tay là bàn tay hay lòng bàn tay là cái bàn tay thì cũng chẳng đúng, trong đó còn có xương, thịt, gân, nếu vậy ta nói xương cũng là bàn tay, gân cũng là bàn tay sao?, chẻ nhỏ đến các tế bào, các phân tử, nhỏ hơn nữa như khoa học hiện đại đã làm, thì cuối cùng chẳng cái nào là bàn tay cả, vật chất đó nó là tương đối, nó tự tính không, không cái gì tạo nên cả, không do cái gì sinh ra, do hợp duyên mà thành.

Về vũ trụ, Phật giáo coi vũ trụ là nhất thể, tự có thường hằng, không sinh, không diệt, luân hồi sinh tử, có sinh có tử, có tử ắt có sinh, không sinh không tử, đủ duyên thì hợp thành sinh, hết duyên hợp thì diệt, biến thiên vạn hóa mọi vạn pháp đều sinh tử tử sinh có mối tương quan trong cái nhất thể (Bản tâm) mà không có hai. Thuyết "Duyên khởi" là thuyết căn bản nhất trong Phật giáo, theo đó, vạn pháp trong vũ trụ đều không sinh không diệt, do đủ duyên mà thành, hết duyên thì diệt, diệt rồi đủ duyên lại sinh, rồi lại diệt...Ngay khi Phật tại thế, sau khi tu pháp thiền định, giác ngộ toàn năng, ngài đã chỉ ra rằng trong vũ trụ bao la có vô lượng hành tinh ( Hằng hà sa số), sinh diệt luân hồi, ngày nay bằng kính thiên văn và thám hiểm vũ trụ, người ta mới chứng minh được lời Phật Thích Ca trong kinh Phật là đúng.
Về vật chất trong vũ trụ, khoa học hiện đại ngày nay đã hé mở phần nào về nguyên nhân từ vụ nổ bigbang, người ta đã chứng minh sự thật thì vật chất trong vũ trụ tồn tại chỉ là tính tương đối. Ông Joseph Lykken, nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ mang tên Fermi viết trên báo Mail Online như sau:"Từ những tính toán đơn giản, dựa trên kiến thức của vật lý thế giới mà Nhà vật lý lý thuyết này cũng thông báo điều đó tại cuộc họp của Hiệp hội Mỹ vì sự tiến bộ của Khoa học (AAAS) ở Boston. 

Ông nói thêm rằng những kết luận này đã được ông phân tích chính xác từ những dữ liệu về khối lượng của boson Higgs, thu được trong năm qua."Chiếc bong bóng của chân không tuyệt đối hình thành do sự tập hợp ngẫu nhiên, bắt đầu giãn nở với tốc độ ánh sáng và hút vào nó vũ trụ của chúng ta". Công trình này đã được trao giải nobel vật lý năm 2013.

Boson Higgs boson là một hạt, được tìm ra vào giữa năm 2012 nhờ LHC, có khối lượng 126 GeV, tương ứng với dự đoán lý thuyết của Mô hình chuẩn. Người ta cho rằng nó mang lại khối lượng cho các hạt cơ bản. Nếu khối lượng của nó sai lệch, dù chỉ 1% đi nữa thì xác suất kết thúc của vũ trụ sẽ khác đi, thậm chí có thể coi là vũ trụ này là không ổn định. Sự thực thì hạt Higgs có thể làm thay đổi vật chất, làm biến đổi không gian và thời gian, làm nguyên nhân của sự phân rã biến mất của vũ trụ. Như vậy vũ trụ do một nguyên nhân ngẫu nhiên tập hợp thành (Nhà Phật gọi là đủ duyên), chứ không phải do một đấng sáng tạo nào tạo ra cả, khi hết duyên nó sẽ tan rã trở về không trong cái vòng luân hồi sinh tử.

Về không gian và thời gian, Phật giáo quan niệm không có cái gọi là không gian hay thời gian, thời gian nhanh hay chậm, không gian to hay nhỏ đều do sự ngã chấp của tâm, mọi sự tồn tại chỉ là tương đối, nó không có thật, những gì tạo nên hình tướng đều do ta khởi niệm, đặt cho nó một định danh, định tính. 

Ví dụ ta bảo thời gian nhanh hay chậm, đó là do ta cảm nhận, khởi niệm lên, một người đang vui thì thấy thời gian nó trôi nhanh, một người phiền não thì thời gian nó dài lê thê, vậy thời gian của người vui là một cái, vậy có hai cái thời gian sao, đâu có vậy, còn thời gian của người buồn là một cái, một canh giờ nó vẫn chỉ là một canh giờ, nó tồn tại trong hư không, nhanh hay chậm là do hội tụ đủ duyên hợp nên thời gian nhanh chậm mà thôi. Về không gian cũng vậy, không thể nói từ rộng hẹp, vì nếu ta ở trong phòng nhỏ ta nói không gian hẹp, ta ra cánh đồng ta nói không gian rộng, vậy rộng là không gian hay hẹp là không gian, thực chất thì không có không gian thật bằng định danh, định tính, không gian nó vẫn là không, mọi sự đều là hệ qui chiếu của tâm, không gian thành hay hoại cũng do hợp duyên khởi tạo hay hết duyên tan rã.

Thực tế là thuyết tương đối thời hiện tại đã chứng minh luận điểm này. Thuyết tương đối rộng được Einstein công bố vào năm 1916 (trước đó đã nằm trong loạt bài giảng tại Viện Khoa học Phổ25 tháng 11 năm 1915). Tuy nhiên, nhà toán học người Đức David Hilbert đã viết và công bố các phương trình hiệp biếntrước Einstein. Có nhiều lý do cả Einstein và Hilbert được xem như đồng phát minh ra thuyết tương đối rộng. Lý thuyết này giới thiệu các phương trình thay cho định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Nó sử dụng hình học vi phân và tenxơ để mô tảtrọng trường.

Lý thuyết này cũng dựa trên một tiên đề duy nhất: "mọi định luật vật lý là giống nhau trong mọi hệ quy chiếu (gồm cả những hệ quy chiếu chuyển động với vận tốc thay đổi so với nhau)". Trong lý thuyết này, trọng lực không tồn tại như lực riêng (như theo quan niệm của Newton), mà chẳng qua là lực quán tính, hay khái quát hơn là hệ quả của độ cong trong không-thời gian. Về mặt trực quan, cảm giác về lực hấp dẫn khi ngồi trên mặt đất giống cảm giác lúc trong thang máy đi lên (hoặc tương tự trong xe khi đang tăng tốc/giảm tốc). Lý thuyết tương đối rộng đã dẫn đến một kết quả là mọi vật chất (hoặc khối lượng hoặc năng lượng) đều làm cong không-thời gian, và độ cong này tác động đến đường rơi tự do của các vật chất khác (kể cả đường đi của ánh sáng).

Theo giai thoại, Einstein từng giải thích thuyết tương đối cho một người bình thường: "Khi một người đàn ông ngồi bên cô gái đẹp một giờ, thời gian dường như chỉ mới một phút. Nhưng khi đặt anh ta lên bếp lò nóng một phút, thời gian tưởng đã hàng giờ. Đó là tính tương đối".

Theo thuyết tương đối hẹp của Einstein, thời gian không phải là hằng định, mà có thể co giãn tùy thuộc vào hệ quy chiếu. Chẳng hạn trong một trường hẫp dẫn rất mạnh (như gần một ngôi sao siêu nặng) hay trên con tàu vũ trụ bay với tốc độ rất cao, thời gian bị kéo dài ra, khiến một năm sống trên tàu có thể tương đương cả nghìn năm trên trái đất. Đó là một cách để du hành tới tương lai.  

Công trình khoa học đạt giải nobel vật lý năm 2013 về hạt higgs cũng đã chứng minh không - thời gian chỉ là giả tạm, hạt higgs có thể làm đảo lộn phân rã không - thời gian vũ trụ, các học giả đang lo sợ rằng nếu phát triển hạt higgs qui mô nó sẽ phá hoại toàn bộ không gian - thời gian và vật chất vũ trụ.
Về năng lượng vũ trụ: theo thuyết bảo toàn chuyển hóa năng lượng thì trong vũ trụ, tổng năng lượng không đổi, nó không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Định luật bảo toàn năng lượng là một nguyên lý tổng quát cho tất cả các lý thuyết vật lý (cơ học, điện từ học, vật lý hạt nhân,...). Chưa từng thấy ngoại lệ của định luật này, tuy rằng đôi khi người ta cũng nghi ngờ nó, nhất là trong các phân rã phóng xạ.  Phật giáo nhìn nhận thì nó vốn sẵn có, không tự nhiên sinh, không tự nhiên diệt, nó luân hồi sinh diệt khi đủ duyên, khi hết duyên, nó như cái cây có đủ duyên sinh (Có hạt giống, sinh ra lớn lên lấy năng lượng từ đất, nước, không khí...) lớn lên rồi khi hết dưỡng chất ( Hết duyên) nó chết, nhưng không có nghĩa là hết, người ta đem cây khô đốt, cây khô không mất đi mà nó thành lửa (đủ duyên thành lửa) ngày nay người ta dùng lửa làm nóng tuốc bin chạy thành cơ năng (Ở đây cơ năng đã đủ duyên hợp thành), rồi cơ năng hợp thành mất đi cũng không có nghĩa là hết, người ta tạo đủ duyên nó chuyển thành điện năng, ....cứ như vậy, năng lượng vật chất chuyển hóa luân hồi, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh không ngừng. Như vậy, sự biến đổi vật chất và năng lượng đã có trong kinh Phật hơn 20 thế kỷ, khoa học thời hiện đại đã làm sáng tỏ thêm luận thuyết trong giáo lý nhà Phật.

Về sự sống trên trái đất: Giữa thế kỷ XIX, Charles Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa, và ngày nay, càng ngày chúng ta càng thấy thuyết này rất phù hợp với thuyết Duyên Sinh. Vạn Pháp trong vũ trụ đều do đủ duyên mà thành, hết duyên thì diệt, và đây cũng là căn bản của thuyết Tiến Hóa, từ sự xuất hiện của các cây cỏ cho đến con người xét về mặt vật chất, sự sống do duyên sinh hợp thành, biến chuyển luân hồi, tiến hóa theo các dạng khác nhau, dạng này mất đi, dạng khác đủ duyên thay thế chứ nó vẫn hiển nhiên tồn tại, không có đấng tối thượng nào sáng tạo ra hay lấy đi khỏi vũ trụ, nếu bảo nhân sinh do đấng tạo hóa tạo thành thì cái gì tạo nên đấng tạo hóa, cuối cùng thì cũng không cái gì tạo ra mà do duyên sinh cả thôi, nhân sinh nó vẫn nguyên vẹn từ vô thỉ kiếp đến nay, nó thường hằng không đổi, do con người chúng ta chưa hiểu hết nên phỏng đoán mê lầm. Về con người, cho dù người ta có tìm ra con người từ những nguyên tố đầu tiên trên vũ trụ sinh ra rồi tiến hóa thì nó cũng không nằm ngoài thuyết duyên khởi, đủ duyên thì những phân tử đầu tiên hợp thành sự sống, biến chuyển sinh diệt luân hồi liên tục qua thời gian tạo thành các lớp động thực vật muôn trạng muôn hình tùy duyên nó hợp thành, lớp này diệt lớp khác sinh, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh.

Về sự sống con người, theo Phật giáo thì về thân vật chất con người do đủ duyên thì tứ đại (Đất, nước, gió, lửa) hợp thành, nghe qua thì có vẻ vô lý bởi đem đất, nước, gió, lửa cộng lại có hình thành thân người không ? nhưng không phải vậy, theo kinh Phật thì thân người sinh ra từ tinh cha huyết mẹ chung hợp nên hình, cha mẹ ăn cây cỏ, thực phẩm đều do sinh từ đất, nước, không khí, năng lượng ấm, duyên hợp thì có tinh cha, huyết mẹ, rồi nuôi dưỡng phôi thai đến ngày sinh, lớn lên, ta ăn uống lấy từ đất (Cây cỏ, thực phẩm), uống nước, hít không khí, tạo năng lượng ấm, nếu một trong tứ đại không còn (Nhịn ăn, không uống, nhịn thở hết không khí, tàn hơi ấm...) là hết duyên thân ta tan rã, nhưng không có nghĩa đã hết bề thân, phần đất trả về với đất, nước trả về với nước, không khí về bầu khí quyển, năng lượng cơ thể, hóa chất nuôi dưỡng động thực vật tạo nên sự sống mới. Còn riêng phần hồn thì lìa khỏi xác, khi đủ duyên do nghiệp tạo sẽ tìm một thân xác mới phù hợp (Trong cảnh duyên hợp mới) trong cõi vũ trụ bao la gửi gắm tạo nên nghiệp mới (Nghiệp dẫn), còn cái bản tâm thực tế nó không mất đi, nó không thay đổi, do nghiệp dẫn mà nó tạo tác ở các kiếp tiếp theo, chỉ khi người ta tìm thấy bản tâm đích thực không sinh không diệt thì sẽ về cõi niết bàn  không còn luân hồi sinh tử (Phần này nếu có điều kiện quí vị nghiên cứu thêm kinh bát nhã, Kinh Pháp Bảo Đàn, kinh thủ lăng nghiêm...trong Phật giáo vì khoa học mới chỉ chứng nghiệm được một vài trường hợp đơn lẻ như những trường hợp đầu thai trên thế giới và các đức Đại Lạt ma, thiền sư trở lại kiếp sống sau của mình, những trường hợp thần giao cách cảm, ngoại cảm, những thí nghiệm về trường sinh học .... mà chưa có được học thuyết nào cụ thể ngoài giáo lý nhà Phật) hy vọng trong không xa, bằng ánh sáng khoa học người ta sẽ khám phá ra kho lưu trữ ý niệm tạo nghiệp của Phật giáo, còn bàn luận về chủ đề này xin để dịp khác tôi và quí vị sẽ có dịp cùng nghiên cứu về khoa học tâm linh.

Ngày nay có nhiều luận điểm phản biện lại học thuyêt tiến hóa, có người cho rằng loài người do sự lai tạo của người ngoài hành tinh hay là một vật thí nghiệm, dù có vậy đi nữa thì con người vẫn là một nhất thể trong cái bản thể của vũ trụ thành - trụ - hoại - không của nhà Phật mà thôi. Các học thuyết nhân sinh ra đời càng làm sáng tỏ thêm lý giải của nhà Phật về luân hồi của sự sống.

Về khoa học ứng dụng ngày nay: Thế giới thời hiện đại là thế giới bùng nổ về công nghệ thông tin, người ta ứng dụng hệ toán nhị phân (hay hệ đếm cơ số hai) là một hệ đếm dùng hai ký tự để biểu đạt một giá trị số, bằng tổng số các lũy thừa của 2. Hai ký tự đó thường là 0 và 1, 1 là có, 0 tức là không có; chúng thường được dùng để biểu đạt hai giá trị hiệu điện thế tương ứng (có hiệu điện thế, hoặc hiệu điện thế cao là 1 và không có, hoặc thấp là 0). Do có ưu điểm tính toán đơn giản, dễ dàng thực hiện về mặt vật lý, chẳng hạn như trên các mạch điện tử, hệ nhị phân trở thành một phần kiến tạo căn bản trong các máy tính đương thời. một dãy chữa số có và không, không và có biểu đạt tạo nên 1 bít. Bất cứ số nào cũng có thể biểu đạt được trong hệ nhị phân bằng một dãy đơn vị bit (binary digit, số ký nhị phân), do đó có thể được diễn giải bằng bất cứ một cơ cấu có khả năng thể hiện hai thể trạng biệt lập, người ta đã ứng dụng cái trạng thái có có, không không để tạo nên một thế giới ảo hiện đại. 

Nếu quí vị nào chịu khó nghiên cứu kinh Phật thì trong kinh Bát Nhã đã bàn luận về cái sự có không này từ khi có đức Phật, trong kinh bát nhã, sắc (Có) tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, cái hình tướng có không nó chỉ là giả tạm, không thật có mà cũng không thật không có, tùy theo sự sắp xếp nên hình trạng (Nhà Phật gọi là lập tâm chấp tướng) ta lấy cái sự sắp xếp  trong tâm thức (Chấp có, chấp không) để mà lập cái không thành có, cái có thành có, cái có thành không lập nên pháp tướng, nên muôn hình vạn trạng, và theo nhà Phật,  phàm những gì có hình tướng đều giả tạm đều không thật có. 

Người ta nói trong tương lai bộ não máy tính gần giống với bộ não con người cũng chả sai biệt, bộ não máy tính đuổi theo những cái có không lập nên những hình trạng ảo giác, không thật có cũng không thật không,  cái tâm con người cũng đuổi theo cái chấp có chấp không để lập nên hình tướng giả tạm như kinh Bát Nhã nói, thế giới ảo trong cái máy tính nó cũng như thế giới ảo trong tâm con người , vì vậy nhà Phật mới nói rằng, cái sự có không là cả một giấc mộng của đời con người vậy.
Thế giới ngày nay đang làm sáng tỏ với tốc độ nhanh chóng những gì còn khuất lấp tồn tại hay không tồn tại của vũ trụ, càng làm sáng tỏ thêm sự tương đồng của thế giới quan Phật giáo với thế giới quan vũ trụ thời hiện đại, chúng ta cần nghiên cứu Phật giáo một cách nghiêm túc để có ứng xử đúng với những giá trị nhân văn của Phật giáo đem đến cho thế gian.

Dù nghiên cứu khoa học hay nghiên cứu Phật học, nghiên cứu xã hội, chúng ta phải nhìn nhận bằng tư duy trực giác, bằng bản thể chứ không nên nhìn thiên lệch về có hay là không có, phải hay là không phải, rơi vào tư duy bảo thủ, kiến chấp hoặc lại bỏ rơi nó vào nhị nguyên đối đãi giữa cái có và cái không (Tư duy này bị Phật giáo phản đối ác liệt nhất trong hành pháp). 

Đơn giản như việc nghiên cứu ứng dụng khoa học, con người nên nhìn nhận cả hai khuynh hướng tích cực và không tích cực, nhiều khoa học phát triển đem đến nhiều cái có về thành tựu như tạo ra năng lượng lớn, phát triển công nghệ hiện đại, chúng ta mải chấp vào mặt có tích cực mà bảo thủ không chấp nhận hiện thực. 

Ta có thể bay vào vũ trụ, ta có thể tạo ra năng lượng, của cải vật chất nhưng chúng ta không biết có khả năng vá lại tầng ozôn đang bị thủng ngày càng lớn hay không? 

Chúng ta có thể phát triển công nghệ sinh học, tạo ra nhiều loài vật ưu thế nhưng chúng ta có thể lấy lại những sinh vật đã bị tuyệt diệt hay có nguy cơ diệt vong hay không? 

Chúng ta có thể gây chiến tranh để bảo vệ một cái gì đó để sống nhưng chúng ta có cứu được những mạng sống hay chiến tranh là để cướp đi những mạng sống? 

Trong đời sống hàng ngày ta đuổi theo những cuộc được mất, rồi sầu khổ, rồi mua vui, nhưng kết cục thì sao, mọi thứ con người trở về không, cuộc sống dài hay ngắn, vui hay buồn có giải quyết được sự tồn tại mãi mãi không, mọi sự an lạc chỉ đến thật sự khi ta có cái nhìn bằng trực giác, bằng tuệ nhãn xuyên suốt bản thể,  mọi cái có không biến hiện cần được bình tĩnh suy xét để tùy duyên ta ứng xử một cách thích hợp, tạo nên một thế giới an lạc thực sự, một thế giới bình đẳng, an lành.

Trần Hoài Ngọc
Chủ nhật, 27 Tháng 11 2016 00:28

Những đặc điểm của Phật giáo Việt Nam

1. Tính tổng hợp

Đây là đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam.

Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, và do vậy đã được tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng. Hệ thống chùa “Tứ pháp” thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây-Mưa-Sấm-Chớp và thờ đá. Lối kiến trúc phổ biến của chùa Việt Nam là “tiền Phật, hậu Thần” với việc đưa các thần, thánh, các thành hoàng, thổ địa, các anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa. Có những chùa còn có cả bàn thờ cụ Hồ Chí Minh ở Hậu tổ. Hầu như không chùa nào là không để bia hậu, bát nhang ho các linh hồn, vong hồn đã khuất.

Phật giáo Việt Nam là tổng hợp các tông phái lại với nhau. Ở Việt Nam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết. Tuy chủ trương của Thiền tông là bất lập ngôn, song ở Việt Nam chính các thiền sư đã để lại nhiều trước tác có giá trị. Dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi thì pha trộn với Mẫu giáo, nhiều thiền sư phái này, nhất là những vị sống vào thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đều nổi tiếng là giỏi pháp thuật, có tài biến hóa thần thông. Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự lực và tha lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông.

Các chùa phía Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hàng mấy chục pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau. Ở phía Nam, Đại thừa và Tiểu thừa kết hợp mật thiết với nhau: nhiều chùa mang hình thức tiểu thừa (thờ Phật Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa, bên cạnh Phật Thích Ca lớn vẫn có nhiều tượng nhỏ, bên cạnh áo vàng vẫn có đồ nâu lam.

Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác: Phật với Nho, với Đạo, tạo thành quan niệm Tam giáo đồng nguyên (3 tôn giáo cùng phát nguyên từ một gốc) và Tam giáo đồng quy (3 tôn giáo cùng quy về một đích).

Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ với việc đạo và việc đời. Vốn là một tôn giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở nên rất nhập thế: Các cao tăng được nhà nước mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng. Sự gắn bó đạo – đời không chỉ thể hiện ở việc các nhà sư tham gia chính sự, mà ngược lại còn có khá nhiều vua quan quý tộc đi tu. Trong 6 thế hệ đệ tử của phái Thảo Đường thì đã có tới 9 người là vua quan đương nhiệm. Không phải ngẫu nhiên mà ở sân chùa Phổ Minh, quê hương nhà Trần, lại có chiếc vạc đồng lớn (1 trong “An Nam tứ đại khí”) tượng trưng cho quyền lực.

Vẫn với truyền thống gắn bó với đời, đầu thế kỷ XX, Phật tử Việt Nam hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội (như cuộc vận động đòi ân xá Phan Bội Châu và đám tang Phan Châu Trinh). Thời Diệm – Thiệu, Phật tử miền Nam đã tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập dân tộc, nổi bật là sự kiện Phật tử xuống đường đấu tranh phản đối nền độc tài của gia đình họ Ngô, đỉnh cao là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào mùa hè 1963.

2. Khuynh hướng thiên về nữ tính

Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là đàn ông, sang Việt Nam biến thành Phật Ông – Phật Bà. Bồ tát Quán Thể Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay – vị thần hộ mệnh của cư dân khắp vùng sông nước Đông Nam Á (nên còn gọi là Quan Âm Nam Hải). Ở một số vùng, ngay cả Phật tổ Thích Ca cũng được coi là phụ nữ (người Tày Nùng gọi là “Mẹ Pựt Xích Ca”). Người Việt Nam còn tạo ra những “Phật bà” riêng của mình: Đứa con gái nàng Man, tương truyền sinh vào ngày 8-4 được xem là Phật Tổ Việt Nam, bản thân bà Man trở thành Phật Mẫu. Rồi còn những vị Phật bà khác nữa như Quan Âm Thị Kính, Phật bà chùa Hương. Lại còn rất nhiều các bà bồ tát như Bà Trắng chùa Dâu, các thánh mẫu…

Việt Nam có khá nhiều chùa chiền mang tên các bà: chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Tướng, chùa Bà Dàn, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh… Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: Trẻ vui nhà, già vui chùa là nói cảnh các bà.

Chùa hòa nhập với thiên nhiên, bao giờ cũng là nơi phong cảnh hữu tình; bởi vậy mới có cách nói ví “vui như trảy hội chùa”. Cảnh chùa hữu tình, hội chùa vui, cửa chùa rộng mở, cho nên cũng là nơi chở che cho trai gái tình tự: “Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ, Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”.

3. Tính linh hoạt

Ngay từ đầu, người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật tổ với ngày sinh là ngày Phật đản 8-4.

Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: Thứ nhất là tu tại gia, Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa; Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phúc cứu cho một người; coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật: Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới là chân tu; đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật: Phật trong nhà không thờ đi thờ Thích ca ngoài đường (Tục ngữ).

Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọi tai họa: Nghiêng vai ngửa vái Phật, Trời, Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân; làm nên mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi (hệ thống chùa Tứ pháp); ban cho người hiếm muộn có con (tục đi chùa cầu tự: Tay bưng quả nếp vô chùa, Thắp nhang lạy Phật xin bùa em đeo); ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn phát đạt (tục đi chùa lễ phật và hái lộc lúc giao thừa); cứu độ cho người chết và giúp họ siêu thoát (tục mời nhà sư tới cầu kinh và làm lễ tiễn đưa người chết).

Muốn giữ cho Phật ở mãi bên mình, người Việt Nam có khi phá cả giới Phật giáo. Có nơi, do muốn buộc ông sư phải gắn bó với làng mình để giữ chùa, cúng lễ; dân làng đã tổ chức cưới vợ cho sư, khiến ngôi chùa gần như trở thành một gia đình.

Tượng Phật Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc (Tuyết Sơn gầy ốm), ông Nhịn mặc mà ăn (Di-lặc to béo), ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc quăn)… Nhiều pho tượng được tạc theo lối ngồi không phải trên tòa sen mà là chân co chân duỗi rất thoải mái, giản dị. Trên đầu Phật Bà chùa Hương còn lấp ló lọn tóc đuôi gà truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

Ngôi chùa Việt Nam được thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong có 3 gian 2 chái… Chùa Một Cột như một lễ vật dâng lên Phật Bà với hình bông sen thanh thoát ở trên và trụ đá tròn trong hồ vuông ở dưới biểu hiện ước vọng phồn thực (no đủ và đông đúc).

Cùng với mái đình, ngôi chùa trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai ở mỗi làng. Người dân đi bất kỳ đâu có thế ghé chùa xin nghỉ tạm hoặc xin ăn.

 

Theo Sách Cơ sở Văn hóa Việt Nam (PGS. Trần Ngọc Thêm, 1999)


Sáng nay, 26-11, lễ tuyên dương Những tấm gương thầm lặng và cao cả đã được trang trọng tổ chức tại Hội trường Thành phố (số 111 Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, TP.HCM).

Tham dự buổi lễ có bà Đặng Thị Ngọc Thịnh - Phó Chủ tịch nước; bà Bùi Thị Thanh - Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQVN; ông Đinh La Thăng - Bí thư Thành ủy TP.HCM; ông Nguyễn Thành Phong - Chủ tịch UBND TP.HCM cùng 138 tấm gương thầm lặng và cao cả đã góp phần tích cực trong phong trào thi đua yêu nước của thành phố.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Thành Phong cho biết, buổi lễ lần này là sự tiếp nối những kết quả và ý nghĩa thiết thực của lễ tuyên dương những tấm gương thầm lặng và cao cả lần 1, tổ chức năm 2014 - để tri ân những cá nhân, tập thể đã không ngại khó khăn, cống hiến những nghĩa cử hết sức cao đẹp cho đời, cho đất nước.

Ông Chủ tịch UBND TP khẳng định, những việc làm của họ góp phần tôn vinh hơn nữa giá trị và nhân cách của con người Việt Nam.

Chia sẻ tại buổi lễ, bà Nguyễn Thị Hiếu (quận Bình Tân), năm nay đã ngoài 70, từng là một nữ cán bộ Ban binh vận năm xưa, nay vẫn tiếp tục tham gia tích cực vào việc giúp đỡ người nghèo tại nơi bà cư ngụ, bà tâm niệm: “Mình biết đói mới biết thương người đói bụng, nên tôi chỉ muốn hết mình giúp họ”.

Anh Đinh Văn Việt (Đội vệ sinh 3, Q.8) đã gắn bó với nghề vớt rác trên sông suốt 16 năm ròng rã: “Mình nghĩ ai cũng ngại khó thì người nào sẽ làm. Còn mình cố gắng làm được thì người khác cũng sẽ thấy đó mà làm được, môi trường mới sạch”. Và ông Nguyễn Ngọc Đức (quận Bình Tân) một người cựu chiến binh cần mẫn vì dòng kênh xanh: “Thương binh tàn nhưng không phế, nên làm được việc nào có ích mình nên làm hết cho đời được vui”.

Còn cô giáo Đinh Thị Kim Phấn (Q.1), người đã mang con chữ đến với những bệnh nhi ung thư; và chị Lê Bảo (Q.1), chủ nhiệm CLB Ếch con với sự nhẫn nại và tình yêu thương, đã giúp cho nhiều em nhỏ hoàn thiện hơn chính mình. Chị Bảo chia sẻ: “Tôi gượng dậy sau những vấp ngã, những thương tổn về tình cảm sâu sắc, và vì vậy tôi không muốn bất cứ ai phải chịu cảm giác như tôi đã từng”.

H_nh 1 (2).JPG
Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng và Chủ tịch HĐND TP.HCM 
Nguyễn Thị Quyết Tâm trao tặng bằng khen cho các cá nhân và tập thể tôn giáo

Về phía Phật giáo cũng có nhiều tấm gương tiêu biểu như Ni viện Phước Long (Q.9), chùa Liên Hoa (quận Tân Phú), chùa Bình An (quận Bình Tân), chùa Như Lai (quận Gò Vấp), Chi hội Nữ tu tịnh xá Ngọc Phương (quận Gò Vấp)... là những cơ sở tôn giáo đi đầu trong công tác từ thiện xã hội, vì những mảnh đời neo đơn tại TP.

Về cá nhân có TT.Thích Viên Phước, trụ trì chùa Bát Nhã (Q.4); TT.Thích Huệ Công, trụ trì chùa Long Hoa, trưởng Ban bảo trợ Hội chữ thập đỏ Q.8; ĐĐ.Thích Quảng Tâm, trụ trì chùa Hưng Quốc (Q.11) với nhiều nỗ lực thiết thực vì người nghèo, trẻ mồ côi.

Ngoài ra, không ít những tấm gương khác từ chối xuất hiện trên sân khấu, mong rằng hành động và việc làm thiết thực của mình diễn ra trong thầm lặng.

H_nh 1 (3).JPG
Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong và 
Phó Bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Thị Dung trao bằng tuyên dương

Bà Đặng Thị Ngọc Thịnh phát biểu: “TP.HCM có thể xem là một đơn vị đi đầu với nhiều tấm gương người tốt việc tốt. Những con người trong buổi lễ hôm nay, không chỉ xứng đáng là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo, mà còn là chỗ dựa vững chãi, lan tỏa niềm tin vào cuộc sống cho nhiều người. Mong rằng, chúng ta sẽ lấy đây làm động lực hơn nữa để hoàn thiện chính mình và nhân rộng tình yêu thương”.

Giao Hảo

Tối qua, 25-11, chương trình văn nghệ “Thành phố nghĩa tình - Kết nối yêu thương” - vận động gây quỹ Vì người nghèo TP đã được diễn ra tại phim trường Đài truyền hình TP (Đinh Tiên Hoàng, Q.1) và trực tiếp trên kênh HTV9.

Mở đầu là phần biểu diễn “Tự hào thành phố của tôi”, đến “Nghe em hát niềm vui nông thôn mới” - đan xen là các clip về những việc làm nghĩa tình của người TP.

Chia sẻ trực tiếp tại trường quay chị Nguyễn Thị Ngọc Tuyên - Tổ hỗ trợ vốn không lãi suất ở xã Lý Nhơn - huyện Cần Giờ cho biết, đơn vị của chị hoạt động được 6 năm, đã hỗ trợ vốn cho nhiều gia đình trong lúc khó khăn.

Chị Tuyên bày tỏ: “Một nắm khi đói bằng một gói khi no, đó là thể hiện tình nghĩa làng xóm khó khăn có nhau”.

Còn với chú Nguyễn Hòa Ninh ở huyện Củ Chi với chương trình trao phương tiện làm ăn cho hộ nghèo, chú được hỗ trợ  một “cô bò”, sau khi bò sinh, thì chú bò con sẽ thuộc về nhà chú Ninh còn "cô bò" kia sẽ được chuyển qua cho một hộ khó khăn khác.

“Lúc đầu nằm mơ cũng không dám nghĩ tới, rồi được nhận nuôi cũng lo lắm, vì xưa giờ có nuôi bò đâu nhưng nhờ bà con hướng dẫn, chính quyền hướng dẫn nên cũng có kinh nghiệm. Ở đây người nghèo đông, nếu mô hình này được nhân rộng thì bà con sẽ thoát nghèo” - chú Ninh bày tỏ.

Ông Nguyễn Hoàng Năng, Chủ tịch UBMTTQVN TP.HCM, phát biểu, cho biết, tiếp tục phát huy chương trình văn nghệ giai điệu tình thương - chung tay vì người nghèo 15 năm qua, năm nay Thường trực UBMTTQVN TP phối hợp với Ban Giám đốc Đài Truyền hình TP tổ chức đêm nghệ thuật này.

Theo ông Năng, qua chương trình, kêu gọi các doanh nghiệp, cơ quan đơn vị, các tổ chức tôn giáo, dân tộc, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân TP tiếp tục chung tay, góp sức ủng hộ Quỹ vì người nghèo TP, để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chương trình giảm nghèo bền vững của TP, xây dựng TP văn minh, hiện đại, nghĩa tình. Đặc biệt nhất là chăm lo cho người nghèo trong dịp Tết cổ truyền Đinh Dậu sắp tới.

2vn.jpg
HT.Thích Thiện Tánh trao số tiền PG TP.HCM 
ủng hộ Quỹ Vì người nghèo TP. Ông Nguyễn Hoàng Năng đón nhận

Được biết, trong đêm văn nghệ, Ban Tổ chức nhận được ủng hộ gần 36 tỷ đồng cho chương trình Quỹ vì người nghèo TP năm 2017. Trong đó, HT.Thích Thiện Tánh, Phó Chủ tịch HĐTS, Phó ban Thường trực BTS GHPGVN TP.HCM đã đại diện BTS GHPGVN TP.HCM trao 1 tỷ đồng ủng hộ Quỹ.

Như Danh

Đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu tại Hội nghị Quốc tế về Phật giáo và Khoa học ở Ulaanbaatar hôm thứ Hai (21-11) rằng Phật tử không nên chỉ hạn chế trong việc thực hiện các nghi lễ và hãy cố gắng chiếm lĩnh nguồn tri thức.

"Nhiều người có xu hướng nghĩ về tu viện chỉ là nơi thờ phượng. Nhưng nếu bạn giới thiệu các nghiên cứu sâu rộng về khoa học và triết học Phật giáo, và không giới hạn bản thân trong việc thực hiện các nghi lễ, thì mọi người sẽ đến các cơ sở này như những trung tâm học tập, nơi mà người dân thuộc bất kỳ đức tin hoặc không đức tin có thể tiếp thu kiến thức", Đức Đạt Lai Lạt Ma nói.

Mô tả mình là một nửa Phật tử và một nửa nhà khoa học, ngài nói thêm rằng việc kết hợp của mình hơn 30 năm qua với các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau và các cuộc thảo luận đã "vô cùng có lợi".

"Học giả và các Phật tử đã hưởng lợi từ việc nghiên cứu về vật lý trong khi các nhà khoa học hiện đại đã cho thấy sự quan tâm sâu sắc đến việc tìm hiểu về những gì Phật đã nói về hoạt động của tâm và cảm xúc", ngài nói.

Văn Công Hưng (theo Phayul)

Sáng nay, 26-11, chư tôn đức Ban Thường trực BTS GHPGVN TP.HCM đã tổ chức bế giảng khóa Bồi dưỡng trụ trì 2016 và Tưởng niệm lần thứ 708 Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết-bàn tại Nhà Truyền thống Văn hóa Phật giáo TP.HCM - chùa Phổ Quang, quận Tân Bình.

Quang lâm chứng minh, tham dự có sự hiện diện của chư tôn đức giáo phẩm: HT.Thích Đức Nghiệp, Phó Pháp chủ HĐCM; HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng BTS GHPGVN TP.HCM, Trưởng BTC khóa Bồi dưỡng trụ trì; HT.Thích Viên Giác, HT.Thích Giác Tường, thành viên HĐCM; HT.Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS; HT.Thích Thiện Tánh, Phó Chủ tịch HĐTS, Phó Trưởng ban Thường trực BTS PG TP; HT.Thích Thiện Tâm, Phó Chủ tịch HĐTS; cùng chư tôn đức Tăng Ni thuộc ban, viện T.Ư, BTS PG TP, 24 BTS PG quận, huyện cùng hơn 600 Tăng Ni khóa Bồi dưỡng trụ trì 2016.

Đại diện các Sở, ban, ngành TP có ông Trần Tấn Ngời, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQVN TP; Lê Hoàng Vân, Phó Trưởng ban Tôn giáo TP…

ANH BB (7).JPG
Chư tôn đức giáo phẩm HĐCM, HĐTS

ANH BB (5).JPG
Chư tôn đức HĐCM, HĐTS, ban, viện T.Ư

Tại buổi lễ, thay mặt Ban Tổ chức khóa Bồi dưỡng trụ trì 2016, ĐĐ.Thích Thiện Quý, Chánh Thư ký BTS PG TP báo cáo khóa học của Tăng Ni. Theo đó, khóa Bồi dưỡng trụ trì 2016 là khóa học nâng cao của Tăng Ni đã có chứng chỉ khóa I-2015.

Khóa học nhằm triển khai giáo điển của Đức Phật quy định trong Tỳ-ni luật tạng hoặc chư Tổ đã chế tác trong các bản thanh quy, thiền môn quy củ, thiền lâm Bảo Huấn… bồi dưỡng kiến thức về hoằng pháp, nghi lễ thiền môn, các pháp yết-ma, hành chánh Giáo hội, soạn thảo văn bản, chính sách, tín ngưỡng tôn giáo… cho chư tôn đức Tăng Ni. Khóa học có hơn 600 Tăng Ni tham dự gồm Tăng Ni đang trụ trì các tự viện và Tăng Ni đại chúng.

Khóa học diễn ra từ ngày 21 đến ngày 26-11-2016 do chư tôn đức giáo phẩm HĐTS, BTS PG TP.HCM, chư tôn đức có kinh nghiệm trong việc quản lý tự viện, hành chánh Giáo hội phụ trách giảng dạy: HT.Thích Trí Quảng, HT.Thích Minh Chơn, HT.Thích Minh Thông, TT.Thích Lệ Trang, TT.Thích Thiện Thống…

ANH BB (10).JPG
HT.Thích Đức Nghiệp ban đạo từ

ANH BB (9).JPG
ĐĐ.Thích Thiện Quý báo cáo công tác giảng dạy

ANH BB (8).JPG
Hơn 600 học viên tham dự

Chương trình khóa học gồm các chuyên đề: Ý nghĩa trụ trì (HT.Thích Trí Quảng), Hoằng pháp truyền thống và hiện đại (HT.Thích Minh Chơn), Các pháp Yết-ma (HT.Thích Minh Thông), Nghi lễ thiền môn(TT.Thích Lệ Trang), Hành chánh Giáo hội (TT.Thích Thiện Thống), Pháp lệnh, tín ngưỡng tôn giáo (ông Lê Hoàng Vân). Sau các buổi học, Tăng Ni học viên đặt câu hỏi và được giảng sư trả lời, thảo luận tại giảng đường.

Khóa học được đánh giá khá nghiêm túc, mỗi buổi học đều có điểm danh. Sau mỗi môn học, học viên làm bài kiểm tra với tinh thần nghiêm túc, cầu học. Bài kiểm tra nộp về đạt 95% so với số lượng Tăng Ni đăng ký tham dự.

Căn cứ vào chất lượng các bài kiểm tra, và học viên tham dự đủ số buổi học theo quy định của Ban Tổ chức, Tăng Ni sẽ được cấp chứng chỉ II.

Ban đạo từ tại buổi lễ, HT.Thích Đức Nghiệp thay mặt chư tôn đức HĐCM, HĐTS GHPGVN tán thán công đức đối với BTS PG TP.HCM đã tổ chức khóa Bồi dưỡng trụ trì 2016 cho Tăng Ni.

Hòa thượng cũng phát biểu nêu lại hành trạng cuộc đời và đạo nghiệp của Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông nhân Đại lễ tưởng niệm lần thứ 708 ngày Ngài nhập Niết-bàn.

ANH BB (2).JPG
Trang nghiêm lễ đài tôn trí tôn tượng Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông

ANH BB (12).JPG
Chư tôn giáo phẩm niêm hương tưởng niệm

ANH BB (13).JPG

ANH BB (14).JPG
Thực hiện khóa lễ tụng niệm

Trong không khí trang nghiêm, thanh tịnh, chư tôn đức giáo phẩm HĐCM, HĐTS, BTS PG TP, 24 BTS PG quận huyện, quý quan khách và Tăng Ni hướng về lễ đài niêm hương cúng dường Tam bảo, thành kính tưởng niệm Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đã cống hiến cuộc đời cho Dân tộc và Đạo pháp.

TT.Thích Lệ Trang, Phó Trưởng ban Nghi lễ T.Ư, Trưởng ban Nghi lễ TP.HCM đã xướng lễ cúng dường, và thực hiện các nghi thức tưởng niệm. Toàn thể đại chúng nhất tâm đồng thanh tụng niệm cúng dường, tưởng nhớ công đức to lớn của Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông.

ANH BB (15).JPG
Chư tôn đức Tăng Ni, quý khách thành kính tưởng niệm Đức Phật hoàng

Tiểu sử Đức Phật hoàng đã khẳng định, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, vua Trần Nhân Tông (1-11-1308 – 1-11-2016) là một trong những lãnh tụ thiên tài, anh hùng của dân tộc.

Đối với đạo pháp, vua Trần Nhân Tông là một vị vua duy nhất trên thế giới từ bỏ ngôi vua để đi tu và đắc đạo, thống nhất được Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ và hình thành tổ chức Giáo hội Trúc Lâm, được xem là đặc trưng của truyền thống Phật giáo Việt Nam.

Qua những cống hiến của Đức vua Trần Nhân Tông đối với Dân tộc và Đạo pháp, nhân dân và Tăng Ni, Phật tử tôn vinh Ngài là vị Vua Phật Việt Nam.

ANH BB (1).JPG
HT.Thích Thiện Tánh phát biểu cảm tạ

ANH BB (11).JPG
Quang cảnh lễ bế giảng khóa Bồi dưỡng trụ trì

Buổi lễ khép lại sau phần phát biểu của HT.Thích Thiện Tánh thay mặt Ban Tổ chức cảm tạ.

* Đọc thêm: 3 điều kiện cần thiết đối với vị trú trì ||

H.Diệu - Ảnh: Bảo Toàn

Lần thứ hai, Ban Trị sự GHPGVN TP.Hồ Chí Minh đã tổ chức khóa bồi dưỡng trú trì cho Tăng Ni liên tục trong một tuần lễ, khai mạc sáng 21-11 vừa qua.

Trong bài giảng mở đầu khóa bồi dưỡng, HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Trưởng ban Trị sự GHPGVN TP, Trưởng ban Tổ chức đã nhấn mạnh, để làm tròn vai trò quan trọng của mình, vị trú trì cần phải có 3 điều kiện thực tế.

Thứ nhất là tâm từ bi. Đó là tấm lòng đối với bất cứ cơ sở nào mà mình có duyên đến làm Phật sự, sự quan tâm chăm sóc cho Tăng chúng và Phật tử, để Tăng chúng và Phật tử thuận duyên tu học, vững niềm tin chánh tín nơi Tam bảo, thăng tiến trên con đường phát triển tâm linh.

Thứ hai là luôn nỗ lực học hỏi để có được sự hiểu biết toàn diện. Trú trì là vị có trách nhiệm quan trọng đối với mọi sinh hoạt của tự viện - cơ sở của Giáo hội, do vậy vị ấy cần phải có hiểu biết hơn người bình thường, hiểu biết về Phật pháp, các pháp môn tu tập cũng như các kiến thức tổng hợp liên quan tới Giáo hội, xã hội. Có được hiểu biết sâu rộng mới có thể hướng dẫn người khác cũng như tổ chức thời khóa tu học của Tăng chúng theo đúng quy cách thiền môn, hoạch định chương trình sinh hoạt cho Phật tử hợp lý, đúng với tinh thần Phật pháp cũng như các nội dung của Hiến pháp, luật pháp và Hiến chương Giáo hội, phù hợp với truyền thống văn hóa, đặc điểm thời đại.

Thứ ba, một điều kiện rất thực tế nữa đó là sức khỏe. Trú trì là người chịu trách nhiệm bao quát của một tự viện - do đó phải có sức khỏe mới có thể làm tốt công việc của mình; còn nếu sức khỏe không đủ, hoặc thường ốm yếu thì chắc chắn sẽ khó làm tròn trách vụ phụng sự cho đạo, đem lại lợi lạc cho đời.

Theo công bố mới đây, nhân dịp Đại lễ Kỷ niệm 35 năm thành lập GHPGVN (1981-2016) trong cả nước hiện có hơn 17.376 ngôi chùa, riêng TP.Hồ Chí Minh có hơn 1.325 ngôi đăng ký sinh hoạt với Giáo hội, và số lượng vẫn còn tiếp tục tăng theo thời gian, vì nhiều cơ sở mới xây dựng đang trong quá trình đăng ký sinh hoạt với Giáo hội.

Năm 2015, lần đầu tiên Ban Trị sự Phật giáo thành phố đã tổ chức khóa bồi dưỡng trú trì, với các nội dung căn bản nhằm tạo nhận thức cho Tăng Ni đã, đang và chuẩn bị cho Phật sự trú trì một nền tảng về các quy tắc ứng xử đặc thù thiền môn, giới luật, nghi lễ cũng như các quy định hành chánh của Giáo hội, Pháp lệnh Tín ngưỡng - tôn giáo hiện hành. Khóa bồi dưỡng lần đầu tiên đã thu hút đông đảo Tăng Ni tham gia học và Ban Tổ chức đã cấp chứng chỉ cho những Tăng Ni học viên đạt yêu cầu sau đợt kiểm tra bằng bài thu hoạch cuối kỳ.

Khóa bồi dưỡng trú trì 2016 vừa khai giảng được tổ chức trên cơ sở tiếp nối khóa trước, dành cho những Tăng Ni đã được cấp chứng chỉ ở khóa đầu tiên. Việc làm này, qua nội dung giảng dạy chính về vai trò của vị trú trì, cũng như các tri thức, kỹ năng về hoằng pháp, giới luật Tăng-già (các pháp yết-ma), nghi lễ thiền môn, hành chánh Giáo hội… sẽ là nền tảng cho sự thống nhất sinh hoạt của Phật giáo, góp phần làm nên sự thống nhất cơ bản, làm cho Phật giáo thành phố ngày càng ổn định và phát triển.

Tùng Lâm
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»
Trang 4 trong tổng số 11

Ảnh Đẹp

phong-tuc-don-tet-cua-nguoi-mien-trung-3.jpg
  • MP3 Nghe Nhiều

  • Tin Mới

  • Tin Đọc Nhiều

Suy Niệm Lời Phật Dạy

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Lịch và Đồng hồ

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player