1/ Hỏi: Kính thưa Thầy, tại sao khi ngồi thiền ta phải biết rõ toàn thân ?

Đáp: Giống như khi mình học Toán thì diện tích hình chữ nhật là dài x rộng, mình không cần biết tại sao. Nhưng khi lớn lên tới lớp 12 thì phải biết tại sao. Do đâu biết tại sao ? Do ta học tích phân. Giống như hồi nhỏ ta học diện tích hình tròn thì bằng bình phương bán kính nhân cho π (pi). Cứ học thôi không cần biết tại sao. Nhưng lên lớp 12 ta phải biết tại sao, khi ta học được môn tích phân thì ta biết tại sao nó như thế.

Thì cũng vậy, khi ta mới đến học Thiền thì căn bản là biết rõ toàn thân. Biết rõ thân này vô thường, bắt đầu biết hơi thở. Biết hơi thở vào, hơi thở ra rõ ràng và không điều khiển. Ta cứ học vậy thôi, từ từ tâm ta thanh tịnh. Từ từ phá vỡ hết những phiền não cấu trúc trong não ta, ta đi vào thanh tịnh. Nhưng ta không cần biết tại sao. Nhưng mà khi không biết tại sao thì trong lòng ta vẫn có cái gì đó hồ nghi nho nhỏ. Còn khi ta biết tại sao như thế thì ta vững lòng ứng dụng pháp môn của mình.

Bây giờ Thầy giải thích. Mình sẽ hiểu được các pháp môn khác họ tu đúng chỗ nào, sao chỗ nào.

Theo sinh lý học về não của y học, ghi trong y văn, thì nguyên vùng vỏ não của chúng ta, mỗi vùng vỏ não gánh một bộ phận của cơ thể. Toàn cơ thể phía dưới đều được phản ứng trên vỏ não. Ví dụ cái chân nằm ở đây, ngón chân nằm ở kia, gan, thận, lá lách, phổi, cánh tay, lưng, bụng, đùi… đều nằm trên vỏ não. Bây giờ ta dùng kim chích vào phần vỏ não của đầu gối thì đầu gối đau liền mặc dù không có tác dụng gì tới đầu gối.

Hoặc là có những người họ bị tật nguyền mà họ mất cái chân, họ cứ thấy bị ngứa ngón chân cái, nhưng mà có để gãi không ? Ngón chân cái không có để gãi nhưng vẫn bị ngứa, thì cái đó ngứa ở đâu? Vùng não của ngón chân cái còn, vùng não bị cái gì đó nên ngứa nhưng mà nó phản ánh toàn thân là có ngón chân cái mà rờ không có chỗ nào để gãi hết. Ta hiểu như vậy, vỏ não của ta phản ánh toàn cơ thể chúng ta. Tự nhiên, bình thường và bình yên như thế.

Thế nào, khi ta sống mà ta bị căng thẳng, khi ta sống mà ta được thư giãn ? Tức là võ não làm việc đúng chức năng của nó. Ví dụ như phần vỏ não thể hiện về cánh tay của ta mà nó được an trú nơi cánh tay của ta thì nó là thư giãn, nó bình yên. Vỏ não đó buộc nó phải suy nghiệm vấn đề khác, về vấn đề triết học cao siêu, tính toán v.v. Tức là nó rời khỏi chức năng của nó thì nó trở nên căng thẳng dần dần, gọi là tâm ta động. Ta mệt ta phải làm việc.

Khi não ta làm việc nghĩa là gì? Là nó không thực hiện đúng với cái chức năng tự nhiên của nó, bắt đầu nó phải động qua vấn đề khác. Nhiều ý niệm khác đi vào. Như cái vùng đó là chịu trách nhiệm về cái lưng nhưng bây giờ nó không chịu cái lưng nữa mà lúc đó đang suy nghĩ về người hàng xóm, về việc hơn thua, cãi lẫy… là nó rời khỏi chức năng đó. Gọi là não ta bắt đầu đi vào stress, căng thẳng. Còn nếu vùng não của cái lưng mà nó phản ánh đúng cái lưng, an trú đúng cái lưng thì nó trở nên thư giãn, nhẹ nhàng, bình yên. Đây là mấu chốt phải hiểu được chỗ này mới hiểu sâu hơn nữa vào Thiền từ từ.

Nói lại, một ví dụ khác. Ví dụ như một người canh trước cửa Chánh điện, họ ngồi đó, biết hết mọi vấn đề từ hồi nào tới giờ rồi, như là cửa trên có mấy phần, cửa dưới có mấy phần, ai đi ra đi vô, biết hết. Nhưng bây giờ họ ngồi đó mà không cho họ canh Chánh Điện nữa, bắt họ ngồi đó tính toán kế toán của chùa thì lúc đó họ phải mệt hơn. Còn bây giờ không tính toán, cho họ đứng yên đó, trở lại làm công việc của họ là chỉ coi người đi ra đi vô thôi thì họ thoải mái, bình yên lại liền vì làm đúng chức năng.

Từng vùng não phản ánh mọi điểm trên toàn thân chúng ta, đó là mấu chốt làm cho mình định hay động. Vì thế, khi ngồi thiền mà ta an trú toàn thân, ta không nghĩ chuyện khác nữa, có nghĩa là cái vỏ não bình yên. Nó trở lại trạng thái tự nhiên của nó. Đó là bước thứ nhất để đi về phía thư giãn chứ Thầy chưa nói định. Đó là lý do tại sao ngày xưa Đức Phật bảo ta là phải cảm giác toàn thân, là để cho não nó trở lại đúng chức năng từng vùng của nó. Bây giờ ta mới thấy sợ Đức Phật. Mà thời đó thì Đức Phật không thể giải thích. Vì lúc đó chưa có khoa sinh lý học của não ra đời. Nên Đức Phật bắt ta làm như thế thôi mà không giải thích.

2/ Hỏi: Tại sao phải biết thân vô thường và biết sâu xa, biết cho tới khi mà xương sau này sẽ tan thành bụi bay mất ?

Đáp : Bởi vì: Ví dụ ta biết toàn thân thì não ta bình an lại, thư giãn lại, nhẹ nhàng lại, nhưng mà thẳm sâu bên trong thì những bản năng còn. Bản năng là cái ham muốn của thân, những khát vọng của cuộc sống, những cái cố chấp của tâm nó tiềm tàng là do ta chấp thân. Vì khi ta biết thân thư giãn rồi nhưng mà ta vẫn quý cái thân này. Và đây chính là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo. Ngoại đạo họ tu họ cũng biết thân. Họ biết cái luân xa này, biết cái luân xa kia, mà họ biết để khi mở từng luân xa họ đạt được quyền năng thì như vậy họ quý thân.

Ngang chỗ này là phân biệt ra đạo Phật với ngoại đạo liền. Tại sao khác nhau giữa thiền và Yoga, khí công của ngoại đạo ? Cũng là chỗ này. Ta biết thân, ta quý thân, ta biết huyệt này huyệt kia, ta trở thành ngoại đạo. Ta biết thân nhưng biết thân này là vô thường thì lần lần ta phá tan hết những bản năng, những cố chấp trong thẳm sâu, trong tâm hồn mình, trong cuộc đời mình luôn. Ví dụ, cái khó nhất của người tu là vấn đề ái dục. Ái dục nó là bản năng tự nhiên. Nó mãnh liệt ghê lắm, không có gì cản lại được. Nhưng nếu ta ngồi thiền ta thấy thân vô thường thời gian dài, thì những cái đó mất. Bắt đầu ta mới thấy được điều Đức Phật nói, ví dụ như khi một người nam nhìn một người con gái đẹp thì nếu trước đây ta thích thì bây giờ bỗng nhiên nhìn vào người con gái đẹp đó, ta không hề quán họ là vô thường, không hề quán họ là bất tịnh, không cần, ta chỉ quán chính ta.

Ta chỉ quán chính ta là vô thường. Nhưng nếu người con gái đẹp xuất hiện là mình nhìn ra: Người này đẹp như thế nhưng rồi nhan sắc họ sẽ tàn phai, tánh tình họ sẽ thay đổi, họ nhăn nheo, già nua. Ngày hôm nay thấy vậy ngày hôm sau nhìn khác. Mọi chuyện trên đời là vô thường, thay đổi. Mà cái nhìn đó nó xuất hiện chính là do ta quán thân vô thường, khi cái bản năng của ham muốn hết thì mình nhìn vấn đề ra rất là rõ và nhìn trùng hợp như Đức Phật đã dạy trong kinh. Nên cái quán thân vô thường lâu ngày nó phá dần các bản năng của ta hết. Những cái ngày xưa ta tham bây giờ hết tham, những cái ngày xưa ta sân, bây giờ hết sân. Rất là vi diệu.

Cho nên thầy nói bước thứ nhất mà biết rõ toàn thân làm cho não chúng ta trở lại đúng chức năng, thư giãn. Và nếu ta không thấy thân vô thường, ta quý thân thì những bản năng tiềm tàng vẫn nằm trong đó. Tuy thư giãn mà trong người đầy ham muốn thì vẫn ẩn chứa một sự sa đọa dữ dội về sau. Còn khi ta biết rõ toàn thân, rồi biết thân vô thường thì nó mất dần và hết luôn. Đó là lý do mà ta phải biết thân vô thường và biết vì sao Đức Phật dạy ta chiêm nghiệm cho tới khi xương thành tro thành bụi.

3/ Hỏi: Tại sao biết hơi thở mà không điều khiển ?

Đáp : Khi mà thần kinh thở được hưng phấn thì vùng thần kinh não khác tự nhiên đi vào ức chế. Nghĩa là khi ta chú ý thở thì tự nhiên não không động tâm vì những chuyện khác, tự nhiên nó vào định. Đó là bên y học và thần kinh não họ phát hiện ra điều đó, rất phù hợp với thiền của đạo Phật, như với khí công của Trung Hoa, Yoga của Ấn Độ. Nhưng khí công của Trung Hoa, Yoga của Ấn Độ đều thua thiền của đạo Phật ở chỗ là thiền của đạo Phật là biết hơi thở mà không điều khiển.

Hơi thở phản ánh hoạt động của tâm thức. Ví dụ như ta động tâm những vấn đề bình thường thì hơi thở nó sẽ thở như thế, ta căng thẳng tập trung thì hơi thở nó sẽ nặng như thế, nếu ta có thêm cảm xúc, sợ hãi thương ghét, hơi thở nó càng thấy rõ hơn nữa. Tức là mọi hoạt động của tâm thức nó biểu hiện qua hơi thở. Nên vì vậy, khi ta biết hơi thở tức là ta biết hoạt động của tâm thức nó biểu hiện qua hơi thở.

Do đó, khi ta biết hơi thở tức là ta biết hoạt động tâm thức của ta. Ta không cần nhìn trực tiếp vào tâm ta đang vui hay đang buồn mà chỉ cần biết hơi thở ra vào như thế nào là ta đang biết tâm của ta. Khi hơi thở nhẹ nhàng, biết tâm đang yên dần, khi hơi thở mạnh, biết tâm đang động. Bây giờ ta thấy hơi thở mạnh nên kìm lại cho tâm êm lại, được không ? Đó chỉ là cách chữa trên ngọn. Giống như là nói tay mình thiếu đường chỉ này nên nghèo, lấy dao cắt một cái cho nó giàu vậy. Cho nên, hơi thở là biểu hiện của tâm, nhưng không phải là ta ép, điều khiển hơi thở mà làm tâm hết vọng tưởng.

Đúng là hơi thở thì tâm yên, nhưng một nguy cơ thứ hai phát sinh. Đó là sự tăng lên của bản ngã. Cái ý điều khiển hơi thở trong khí công hay Yoga ta thấy bản ngã họ tăng lên dần dần. Còn những người khi nhìn thấy hơi thở mạnh, liền biết tâm mình động. Chỉ cái biết đó thôi là như đã sám hối rồi nên chỉ lát sau hơi thở tự dịu lại, ta không điều khiển. Thì như vậy, tâm thức cũng giảm động mà không tăng trưởng bản ngã.

Cái ưu việt của việc biết mà không điều khiển hơi thở là tâm thức lắng xuống mà không tăng trưởng bản ngã. Mấu chốt nằm chỗ này, đó là lý do tại sao Phật dạy ta “ Hơi thở dài biết hơi thở dài, hơi thở ngắn biết hơi thở ngắn, hơi thở ít biết hơi thở ít, hơi thở nhiều biết hơi thở nhiều.” Chỉ cái biết thôi là đã điều chỉnh được tâm thức, còn nếu ta điều khiển, bản ngã tăng trưởng dần dần liền. Những điều sâu xa trong việc tu tập như thế này là ưu việt của đạo Phật. Chúng ta may mắn được làm đệ tử của Đức Phật. Có nói như thế nào cũng không bày tỏ được hết lòng biết ơn của chúng ta với Đức Phật.

Qua một thời gian dài tu tập thì ta được rỗng suốt từ thân tới tâm. Lúc đó, những vọng tưởng manh nha thì ta biết hết. Tới chỗ này ta mới biết được cái tri vọng của Sư Ông Thanh Từ. Mỗi pháp môn giao nhau ở chỗ tri vọng. Tu đúng rồi vọng tưởng khởi biết liền. Nhưng dù biết vọng tưởng rồi, rỗng suốt rồi thì ta sẽ bị hai nhược điểm là lúc đó mình rời khỏi thân mình để mình chiêm ngưỡng sự rỗng rang đó. Lúc đó ta rời khỏi cái thân nữa, bắt đầu sai. Cái thứ hai nữa là ta thích thú, ta quan sát cái vọng tưởng vì nó nhớm nhớm rồi, liền làm ta rất thích cái công phu đó.

Vọng tưởng tế vừa mới phát triển, ta thấy là phải buông liền. Lúc đó ta không rời thân để nhìn tâm. Nó sẽ dụ ta nên hãy nhớ là nhiều lúc xuất hiện trạng thái rỗng suốt rồi những vọng tưởng vi tế xuất hiện, ta thấy, ta phát hiện ngay từ đầu thì chớ dại mà bỏ thân của mình.

Tiếp tục biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, biết hơi thở vào ra mà không điều khiển. Cứ như vậy mà đi. Giống như mũi thuyền đi phía trước, nhưng mình điều khiển thuyền thì mình cầm bánh lái ở đằng sau. Đừng thấy mũi thuyền đi phía trước qua những thác những ghềnh, những bãi hoa đẹp thì ta đi điều khiển mũi thuyền. Tâm ta có biến chuyển qua bao nhiêu trạng thái thì kệ nó, ta chỉ cần biết thân. Biết thân vô thường, biết hơi thở vào ra mà không điều khiển.

Hôm nay Thầy trả lời câu này, cũng là nâng cấp lý luận rất lớn về công phu tu tập thiền cho mọi người hiểu như vậy./.

Khoa học ngày nay chứng minh rằng lòng nhân ái có tác động trực tiếp đến thiên hướng hạnh phúc. Hơn thế nữa; lòng nhân ái còn giúp bạn cải thiện sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Điều này đã trở thành một sự thật hiển nhiên qua sự chứng minh của các nhà sinh vật học.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không có lòng nhân ái? Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người nào càng không thể sẻ chia hay đón nhận lòng nhân ái thì họ càng không có hạnh phúc, và thực tế đáng buồn là những người không hạnh phúc thường có tuổi thọ không cao.

Thông tin ấy khiến bạn mong muốn hạnh phúc hơn, đúng không? Nhưng lòng nhân ái là điểm then chốt để có được hạnh phúc, và nó còn phụ thuộc đến những người xung quanh, bất kể đó là người thân, đồng nghiệp của bạn hay nhân viên thu ngân ở cửa hàng tạp hóa nơi góc phố.

Lòng nhân ái không chỉ có thể lan truyền; mà nó còn được chứng minh là có khả năng làm cho bạn hạnh phúc hơn. (cynoclub/iStock)

Các mối quan hệ lành mạnh – Kéo dài tuổi thọ

Có một điều hết sức hiển nhiên rằng, phương thức mà một cá nhân tương tác với những người xung quanh có liên quan trực tiếp đến sức khỏe tinh thần và cảm xúc của người ấy, và ngược lại.

Năm 2010, một phân tích tổng hợp từ 148 nghiên cứu dựa trên giả thuyết “lòng nhân ái có ảnh hưởng đến tuổi thọ” đã kết luận rằng các mối quan hệ xã hội làm cho người ta hài lòng – hay không hài lòng – thực sự có thể đặt họ vào nguy cơ tử vong sớm. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu cho biết: “… khả năng sống sót tăng 50% đối với những người tham gia nghiên cứu có các mối quan hệ xã hội bền chặt hơn. Phát hiện này là nhất quán ở mọi độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe ban đầu, nguyên nhân tử vong và thời gian điều trị”.

Có thể thực hiện”những hành động ngẫu nhiên xuất phát từ lòng nhân ái” vào bất cứ khi nào ở bất cứ nơi đâu.

“Những kết luận từ các nghiên cứu này có sự khác biệt đáng kể tuỳ thuộc vào các tiêu chí đánh giá các mối quan hệ xã hội… Mối liên hệ giữa lòng nhân ái và tuổi thọ biểu hiện rõ ràng nhất qua những phép đo phức tạp về sự hòa nhập xã hội … và mờ nhạt nhất qua câu trả lời có/không về tình trạng cư trú (sống một mình hay với những người khác)”.

Nghiên cứu còn cho biết:

“Một số chuyên gia cho rằng cô lập với xã hội có hại cho sức khỏe con người. Họ dẫn chứng một bài đánh giá tổng hợp từ năm nghiên cứu sắp được công bố vào thời điểm năm 1988… cho thấy trung bình những người ít có quan hệ xã hội chết sớm hơn so với những người có nhiều mối quan hệ xã hội”.

Nghiên cứu cũng lưu ý rằng con người, đặc biệt là người Mỹ, có thể đang ngày càng trở nên cô lập về phương diện xã hội. Cô lập, ở khía cạnh này, có nghĩa là ít có cơ hội được trải nghiệm lòng nhân ái, qua việc cho đi hay đón nhận nó.

Các nghiên cứu về tương tác xã hội có kết quả chính xác đến mức các nhà khoa học có thể thấy được sự tương đồng giữa những hậu quả tiêu cực do cô lập xã hội với số liệu thống kê tỷ lệ tử vong do hút thuốc, uống rượu, béo phì và ít hoạt động thể chất. Đồng thời, trung thành với các mối quan hệ xã hội đã được chứng minh là có ảnh hưởng tích cực đến tuổi thọ không thua gì phương pháp giảm huyết áp và duy trì trọng lượng cơ thể một cách lành mạnh.
Kiểu như khiến cho bạn thấy mủi lòng để cởi mở hơn với mọi người. (jchapiewsky/Flickr/CC BY)

Thiền quán niệm – không chỉ là cởi mở về tinh thần mà còn cởi mở cả tấm lòng

Một nghiên cứu lâm sàng khác được thực hiện tại Đại học North Carolina, Chapel Hill, muốn tìm hiểu xem các khía cạnh nào trong các mối quan hệ xã hội là quan trọng nhất, để một người có thể có được một cuộc sống mãn nguyện và lâu dài.

Sáu mươi lăm giảng viên và nhân viên đã tham gia vào nghiên cứu này, họ muốn biết liệu những suy nghĩ tích cực và các bài tập tập trung tinh thần thiện chí với chính bản thân mình và những người khác có khả năng làm giảm căng thẳng hay không.

Mỗi người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm: nhóm thứ nhất tham gia vào một lớp học xây dựng những cảm xúc tích cực thông qua một giờ thực hành thiền “lòng từ bi” trong thời gian sáu tuần; nhóm thứ hai xếp vào danh sách chờ không điều trị, được sử dụng như là nhóm đối chứng để so sánh.

“Trong lớp, các học viên được hướng dẫn ngồi và suy nghĩ một cách từ bi về người khác, bằng cách trước tiên là suy ngẫm về những mối bận tâm và lo lắng của riêng họ, sau đó mở rộng ra và suy nghĩ đến cả những sự bận tâm và lo lắng của những người mà họ có mối quan hệ.

Những người này được khuyên bảo lặp lại nhiều lần các câu như “hãy cảm thấy an toàn, cảm thấy hạnh phúc, cảm thấy khỏe mạnh, hãy sống thanh thản”, và kéo những suy nghĩ này trở lại khi tâm trí của họ bị xao lãng. Họ cũng được khuyên nên tập trung vào những suy nghĩ như thế này và tập trung vào những người xung quanh khi gặp những tình huống căng thẳng chẳng hạn như khi họ gặp tắc nghẽn giao thông”.

Kết quả cho thấy “những cảm xúc tích cực, những mối quan hệ xã hội tích cực và sức khỏe thể chất ảnh hưởng lẫn nhau như hình xoáy ốc liên tục hướng lên trên”. Như giáo sư tâm lý học Barbara Fredrickson giải thích, “Kiếu như khiến cho bạn thấy mủi lòng để cởi mở hơn với mọi người”

Những cảm xúc tích cực, những mối quan hệ xã hội tích cực và sức khỏe thể chất ảnh hưởng lẫn nhau như hình xoáy ốc liên tục hướng lên trên. (Post Memes/Flickr/CC BY)

Trương lực phế vị: Tất cả trong nhận thức của bạn

Thần kinh phế vị là dây thần kinh sọ dài nhất trong bộ não của bạn, điều thú vị là nó có thể kết nối những cảm xúc tích cực vốn bắt nguồn từ sự tương tác tích cực với những người xung quanh. Sự gia tăng những cảm xúc tích cực dẫn đến tăng trương lực hay tăng phản ứng thần kinh phế vị, vốn được mô tả như là một “chỉ số biểu hiện sức khỏe thể chất.” Dây thần kinh phế vị cũng là trung gian của hệ thần kinh phó giao cảm và cũng có ảnh hưởng tích cực ở đây.

Thần kinh phế vị là dây thần kinh sọ dài nhất trong bộ não của bạn, điều thú vị là nó có thể kết nối những cảm xúc tích cực vốn bắt nguồn từ sự tương tác tích cực với những người xung quanh.

Trước và sau khóa học thiền, học viên được khuyến khích ghi chép lại thời gian họ thiền định hay cầu nguyện và ghi nhật ký cả mặt tích cực và tiêu cực có liên quan đến những khi họ nhập định. Sau đó, các nhà khoa học ghi nhận biến thiên nhịp tim của mỗi người tham gia, bởi vì sự biến thiên nhịp tim có ảnh hưởng trực tiếp đến trương lực phế vị cơ sở. Theo Thời báo TIME mục Sức khỏe & Gia đình:

“Dây thần kinh phế vị điều chỉnh sự thay đổi của nhịp tim thông qua hơi thở, nhìn chung, trương lực của nó càng lớn thì tính biến thiên nhịp tim càng cao và nguy cơ bệnh tim mạch và các nguy cơ tử vong chủ yếu khác càng giảm. Nó cũng có vai trò trong việc điều hòa nồng độ glucose và phản ứng miễn dịch.

Bản thân thần kinh phế vị còn kết nối với các dây thần kinh khác, do đó:

“… giúp đôi tai của chúng ta bắt nhịp với lời nói của người khác, phối hợp tiếp xúc bằng ánh mắt và điều chỉnh những biểu đạt cảm xúc. Nó tác động đến việc phóng thích oxytocin, một loại hormone quan trọng trong liên kết xã hội. Các nghiên cứu đã cho thấy trương lực phế vị càng cao thì người ta càng có xu hướng gần gũi hơn với những người xung quanh và càng giàu lòng vị tha hơn”.

Một điều thú vị là phản ứng của thần kinh phế vị có liên quan đến sự nhận thức của người tham gia; sự tác động tích cực của thần kinh phế vị có mối tương quan trực tiếp đến sự nhận thức về quan hệ xã hội của từng người. Với những người tham gia nghiên cứu ở nhóm thực hành thiền định, sau sáu tuần họ có biểu hiện gia tăng sự vui vẻ, quan tâm, thích thú, thanh thản và hy vọng. Các nhà nghiên cứu tin rằng họ đã khám phá ra một lợi ích quan trọng từ những thay đổi cảm xúc và tâm lý, đó là cảm giác được kết nối nhiều hơn với những người xung quanh.

Lòng vị tha có thể được xem là hành động của một người nhằm mang lại lợi ích cho người khác trong khi bản thân họ phải chịu tổn thất. (Susan Chiang/iStock)

Lòng vị tha có liên quan đến lượng chất xám

Lòng vị tha có thể được xem là hành động của một người nhằm mang lại lợi ích cho người khác trong khi bản thân họ phải chịu tổn thất. Người lính cứu hỏa là một ví dụ điển hình về lòng vị tha. Một bài viết trên Science Daily đề cập đến kết quả của một nghiên cứu, được thực hiện bởi đội ngũ các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Zurich, dựa trên mối quan hệ giữa giải phẫu não và lòng vị tha của con người. Ông Ernst Fehr, trưởng khoa Kinh tế giải thích:

Có một khu vực xác định trong não bộ – nơi hội tụ của thùy đỉnh và thùy thái dương – liên quan đến khả năng tự đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu được suy nghĩ và cảm xúc của họ.

Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Yosuke Morishima thậm chí còn đề cập cụ thể hơn: “Những người cư xử một cách vị tha hơn có tỷ lệ chất xám ở phần tiếp giáp giữa thùy đỉnh và thùy thái dương cao hơn”. Tuy nhiên, ông Fehr cho biết thêm, những sự vận hành xã hội cũng có thể được xem là một lý do cho việc tại sao người này có lòng vị tha hơn người khác. Nếu sự quan tâm đến cảm xúc của người khác được xem là một trong những định nghĩa về lòng nhân ái, thì những cảm xúc đáng trân trọng khác như sự thông cảm, đồng cảm, lòng trắc ẩn, chu đáo, dịu dàng và sự quan tâm cũng thuộc phạm trù đó. Là con người, chúng ta cũng nên rộng mở lòng nhân ái với muôn loài.

Có một khu vực xác định trong não bộ liên quan đến khả năng tự đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu suy nghĩ và cảm xúc của họ.

Bài viết gần đây của tôi có đề cập rộng hơn về vấn đề này thành “22 điều rất khác biệt ở những người hạnh phúc”, và điểm khác biệt thứ 2 là “Đối xử với mọi người bằng tấm lòng nhân ái”.

“Lòng nhân ái không những dễ lan truyền; mà nó còn được chứng minh là có khả năng làm cho bạn hạnh phúc hơn. Khi bạn tử tế với người khác, não của bạn sản xuất ra những hormone và các chất dẫn truyền thần kinh khiến bạn thấy thoải mái như serotonin, giúp bạn xây dựng các mối quan hệ lành mạnh với mọi người, bồi dưỡng những cảm xúc tích cực với vạn vật xung quanh”.

Bạn muốn tìm kiếm các phương pháp kéo dài tuổi thọ và truyền đi những rung động tích cực cho mọi người trên thế giới này? “Hành động ngẫu nhiên từ lòng nhân ái” có thể thực hiện bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu. Tổ chức “Những Hành Động Ngẫu Nhiên Từ Lòng Nhân Ái” trên trang http://www.ActsOfKindness.org có thể giúp bạn tập trung sự lương thiện của mình theo những cách mà bạn chưa nghĩ đến. Nếu có những vấn đề nào đó trong cuộc sống gây cản trở sự chia sẻ – hay đón nhận – lòng nhân ái của bạn, thì cũng có nhiều phương cách giúp bạn thay đổi cuộc sống của chính mình.

Tác giả: Joseph Mercola | Dịch giả: Tottochan

Thứ sáu, 14 Tháng 10 2016 09:54

Cha của Bill Gates dạy con như thế nào?

Bill Gates hiện đang là người giàu nhất thế giới với tài sản ước tính khoảng 76 tỷ USD. Chỉ nhìn vào số tài sản này thì ai cũng phải choáng ngợp. Thành công của một người có nền tảng rất lớn từ phương pháp giáo dục trong gia đình. Và phương pháp giáo dục của gia đình Bill Gates là rất ưu việt. Trong hồi ký của mình, Bill Gates có đoạn nói về cách dạy con cái của cha ông, rất đáng cho chúng ta học tập.

Hãy xem một số điều quan trọng trong đó nhé…

Bill Gates đã chia sẻ những điều cha ông đã giáo dục ông:

“Lúc các con còn nhỏ, tôi thường dẫn con tới thư viện đọc sách và Bill Gates là người rất thích đọc sách. Bình thường thì hai cha con vẫn thường mượn các cuốn sách về nhà rồi lại đổi các cuốn khác. Nhưng thường mỗi lần trả lại mượn thêm nhiều hơn mới thỏa mãn nhu cầu đọc sách của Bill Gates.

Tôi biết là có nhiều người rất chú trọng gây hứng thú đọc sách cho con trẻ trong nhà, bồi dưỡng thói quen đọc sách cho chúng. Bởi vì họ là những người sinh ra trong gia đình có nền tảng giáo dục, được ăn học đầy đủ. Ở đây tôi muốn nói rằng:

Cho dù là được dạy dỗ hết sức chu đáo nhưng việc đọc sách phải trở thành thói quen và thành niềm hứng thú mới là then chốt.

Thường xuyên đến thư viện đọc sách có thể đem lại cho mọi người những điều tốt đẹp mà đôi lúc bản thân họ không biết được.

Bill Gates đã rất say mê đọc sách, thậm chí còn đọc cả trong giờ ăn cơm. Về mặt lễ nghi thì đọc sách trên bàn ăn đối với những người xung quanh là rất thiếu lễ phép cho nên tôi và mẹ của Bill Gates đã cố gắng thuyết phục con hiểu và tránh việc đó mặc dù rất cảm động với niềm say mê của con.
Bill Gates vẫn không ngừng đọc một cách say mê. (Ảnh: Internet)

Thông thường vào kỳ nghỉ hè, giáo viên vẫn thường giao cho các học sinh danh sách những sách cần đọc. Đến kỳ học tiếp theo sẽ có những kỳ thi liên quan đến việc đọc sách đó để xem xét việc đọc sách của các học sinh thế nào.

Bill Gates từ nhỏ đã có tính thi đua, háo thắng và luôn muốn dẫn đầu trong các cuộc thi và cũng thường thành công như mong muốn. Mặc dù thế tôi thấy rằng con của mình ham mê đọc sách như thế bởi nguyên nhân chủ yếu là Bill Gates luôn tràn ngập hiếu kỳ đối với thế giới xung quanh.

Cậu bé không chỉ muốn biết một cái gì đó mà muốn về mọi thứ

Cũng giống như nhiều phụ huynh, chúng tôi cố gắng thúc đẩy tính tò mò của con cái và chúng tôi thấy điều đó là phù hợp.

Tuy nhiên vợ chồng tôi vẫn luôn tuân theo các phương pháp thích hợp trong giáo dục con cái. Chúng tôi không cho các con mình xem ti vi nhiều, thay vào đó là ủng hộ cho con mua rất nhiều sách.

Nếu con cái vì ham mê mà đọc sách quá khuya thì chúng ta cũng không nên quá nghiêm khắc với chúng về giờ giấc sinh hoạt. Tuy nhiên cần phải ép buộc chúng nghỉ ngơi đầy đủ.

Nếu trên bàn ăn mà thấy con cái chưa thuộc bài hoặc có vấn đề chưa rõ thì sẽ có một thành viên trong gia đình đi lại phòng sách ở gần đó mở tìm các cuốn sách để tìm câu trả lời và đọc to câu trả lời đó cho mọi người cùng nghe.”

Ở một khía cạnh nhất định, thói quen đó trong gia đình làm hình thành và tăng cường một lối suy nghĩ trong Bill Gates rằng:

Nếu bạn có một vấn đề cần giải quyết thì câu trả lời chắc chắn đang nằm ở đâu đó và điều bạn cần làm là đi tìm nó.

“Gates đã thức hiện tốt thói quen đó ở trường và các giáo viên đều thích cậu. Tôi nghĩ rằng tôi và Mary đều hiểu rằng Bill Gates đã thu được rất nhiều lợi ích từ những điều đã học và từ cuộc sống.

Một ví dụ điển hình là chuyện Bill Gates đi bán các loại hạt, đó là lần đầu tiên Gates đi bán hàng.

Khi đó Gates là thành viên của Hội Nam Hướng Đạo. Một hội thường kiếm tiền bằng cách bán các loại hạt nguyên liệu thô làm gia vị. Hội này thường tranh thủ các ngày nghỉ để triển khai các hoạt động bán hàng. Trong hội chia làm các đội và hoạt động giữa các đội luôn có xu hướng cạnh tranh xem đội nào kiếm được nhiều tiền nhất. Vì lý do đó, Bill Gates dành rất nhiều thời gian đi gõ cửa từng nhà để chào mời đơn đặt hàng vào các buổi tối và ngày nghỉ cuối tuần.

Tôi đều đi với con trai mình, tôi lái xe đưa nó tới các khu phố, khi Gates dừng lại ở từng nhà để chào hàng thì tôi ở trong xe chờ.”

Sự việc này đã chứng minh rằng:

Từ khi con nhỏ, Bill Gates đã có những kinh nghiệm tích lũy cho việc kinh doanh của mình.

Ví dụ như:

Các nhân viên tiếp thị cảm thấy thế nào khi bán và chào mời các sản phẩm của mình?

Các nhân tố nào anh hưởng tới quyết định mua hàng của khách hàng?

Việc xác định mức độ phù hợp của sản phẩm ảnh hưởng như thế nào tới thành công trên thị trường của sản phẩm đó.
(Ảnh: Internet)

Đến bây giờ vẫn vậy, Bill Gates vẫn duy trì những thói quen từ khi còn nhỏ, luôn tích lũy kiến thức và năng lượng từ những cuốn sách. Tuy nhiên Gates không còn đọc trên bàn ăn nữa.

Hiện tại Bill Gates đang rất có hứng thú tới những cuốn sách mà người khác ngày càng không còn hứng thú nữa, ví dụ như: những sách nói về cách loại bỏ các bệnh truyền nhiễm, muỗi, bệnh sốt rét và người dân, về loài chuột, bọ và lịch sử.

Bill Gates thường chỉ cần gặp qua 1 lần là nhớ, và ông luôn mong muốn được học hỏi và chia sẻ kiến thức với người khác. Vợ ông bà Malinda đã kể về một sự việc liên quan đến tính cách đó: Trong một bữa tiệc cocktail, khi Bill Gates gặp một người quen thì người đó né tránh không nói chuyện vì lý do người đó sợ Bill Gates lại nói đến bệnh lao phổi.

Ngày 07 tháng 6 năm 2007, Bill Gates được Đại học Harvard trao tặng học vị tiến sĩ danh dự ngành Luật.

“Tôi và Malinda (vợ của Bill) đã đến thăm Bill Gates ở vùng biển miền Đông nước Mỹ ở Cambrige và Massachusetts, và đến tận nơi xem lễ trao bằng cho Bill Gates.

Tôi vẫn rất nhớ cuộc bỏ phiếu sau đó, Bill Gates đã nói với những người đến tham dự rằng: “Những lời tôi sắp sửa nói đã được chờ đợi 30 năm, và hôm nay tôi đã có thể nói ra,” rồi Gates nhìn thẳng vào mắt tôi:

“Cha, con đã nói với cha là con sẽ trở lại trường và đã đạt được học vị!”
(Ảnh: Internet)

Khi Gates sinh nhật lần thứ 50, tôi đã gửi cho con mình một lá thư, trong thư có đoạn:

Ta tin rằng sự thành công của con có nền tảng từ lòng ham hiểu biết và học hỏi.

Tôi đã nói với con trai tôi: Con chính là món quà mà Thiên Chúa tặng thưởng cho cha mẹ. Tình thương mà các bậc cha mẹ dành cho con luôn là chân thành nhất, không nói hết bằng lời và thật khó mà viết hết trong một trang thư. Điều cuối cùng ta muốn nói rất ngắn gọn với con về cảm xúc của một người làm cha:

Rằng lúc còn trẻ đối với những kế hoạch lớn, ý tưởng lớn dường như không thể thực hiện được thì hãy khoan vội xếp chúng vào nhóm những việc ”không thể tin được” (không thể nghĩ bàn).

Bởi vì nó có thể xảy ra như một việc phi thường, trong những trường hợp hết sức đặc biệt, và sẽ làm mình kinh ngạc.

Và ngày hôm nay, ta muốn nói ở đây:

“Được làm cha của con thực sự là một cảm giác rất tuyệt vời, chính là… không thể tin được.””

Dễ thấy rằng để xây dựng một nền giáo dục tốt ở nước ta hiện nay quả là một việc không thể tin được. Phổ biến trong nước hiện nay là các bậc cha mẹ rất cưng chiều và thiên vị con cái của họ. Không có phương pháp giáo dục đúng đắn, cởi mở. Đó là lý do mà nhân tài trong nước chỉ như sao buổi sớm. Không có người tài để phát triển nền khoa học kỹ thuật.

Điều đó là vấn đề mà thế hệ chúng ta cần quan tâm cải thiện. Giáo dục cần bồi dưỡng lòng ham hiểu biết, niềm say mê tìm tòi khám phá!

Khao khát học hỏi chính là chìa khóa để thành công.

Theo Letu Minh Quân

Hơn 200 người từ cộng đồng Dalit Gujarat đã chuyển sang Phật giáo trong 3 sự kiện riêng được tổ chức bởi các tổ chức Phật giáo tại Ahmedabad vào dịp Vijaya Dashmi, ban tổ chức cho biết hôm qua, 12-10.

90 người khác thuộc bang đã chuyển sang Phật giáo ở Nagpur, đưa tổng số người lên hơn 300.

Theo ban tổ chức, mặc dù việc chuyển đổi được thực hiện hàng năm vào ngày Vijaya Dashami, nhưng năm nay con số này tăng cao sau sự cố trận đòn Una Dalit.

"Có đến 140 người Dalit chuyển sang Phật giáo tại một sự kiện do Hội Phật giáo Gujarat tổ chức ở Dani Limda trên địa bàn của Ahmedabad hôm thứ Ba (11-10) để đánh dấu ngày Vijaya Dashmi", Ramesh Banker, một thành viên của Học viện Phật giáo Gujarat, nơi tổ chức sự kiện ở Ahmedabad, cho biết.

65 người từ cộng đồng đã chuyển sang Phật giáo tại một sự kiện riêng được tổ chức tại Kalol ở quận Gandhinagar, trong khi hơn 11 người đã được chuyển đổi ở Wadhwan thuộc Surendranagar.

Một trong số họ cũng theo Phật giáo tại một sự kiện tổ chức tại Kalol. Tổng cộng có 65 người chuyển đổi tại sự kiện này, P G Jyotikar của Hội Phật giáo Ấn Độ, cho biết.

Ông nói người Dalit thích chuyển đổi sang đạo Phật vào ngày Vijaya Dashmi vì vào ngày này năm 1956, Babasaheb B R Ambedkar đã chuyển sang Phật giáo cùng với nhiều người Dalit khác tại một sự kiện ở Nagpur.

Những người chấp nhận tôn giáo mới cho biết họ chuyển sang Phật giáo bởi vì đó là một "tôn giáo nhân đạo hơn" so với Ấn Độ giáo.

"Phật giáo là một tôn giáo nhân bản mang đến sự bình đẳng giữa các Phật tử mà không có bất kỳ sự phân tầng đẳng cấp nào như chúng ta thấy trong Ấn Độ giáo, và do đó, chúng tôi chuyển sang Phật giáo. Bình đẳng mang đến nhiều cơ hội hơn cho một cá nhân phát triển", Arvindsinh Chauhan cho biết.

Văn Công Hưng (theo rediff)

Chính phủ Ấn Độ đang nỗ lực để hỗ trợ Phật giáo trong việc xúc tiến kích cầu Du lịch Văn hóa Tâm linh Ấn Độ và để thu hút du khách ngoại quốc. Hôm Chủ nhật, ngày 02/10/2016 đã diễn ra buổi Khai mạc Hội nghị Liên Minh Phật giáo Toàn cầu tại Học viện Phật giáo quốc tế Karmapa (Karmapa International Buddhist Institute – KIBI), New Delhi, Ấn Độ.

Hội nghị được tổ chức từ ngày 02-06/2016, có sự hiện diện tham dự của gần 300 vị đại biểu đến từ 39 quốc gia, đông nhất là đại biểu các nước ASEAN. Báo cáo hội nghị cho biết chính phủ Ấn Độ đang cố gắng để hỗ trợ Phật giáo giáo trong việc xúc tiến kích cầu du lịch văn hóa tâm linh Ấn Độ và để thu hút du khách ngoại quốc.

Trong bài phát biểu của các công ty lữ hành và các nhà khai thác, các nhà đầu tư thương mại Du lịch trong nước và nước ngoài sẽ đáp ứng với những hoạt động tại Hoa Kỳ. Những nhu cầu, phương tiện được phối hợp thực hiện.
Buổi lễ Khai mạc Hội nghị Liên Minh Phật giáo Toàn cầu, Tiến sĩ Mahesh Sharma, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Du lịch và Hàng Không dân dụng Ấn Độ nói rằng: “Thế giới đang đối mặt với các vấn đề, những thách thức, hy vọng tất cả giải pháp Phật giáo đều đáp ứng được".
Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Shri Narendra Modi đặc biệt đánh giá rất cao Phật giáo và được phản ánh từ gần 300 Đại biểu đến từ 39 quốc gia. Phật giáo đã trở thành một tôn giáo thế giới. Những năm gần đây, Bộ Văn hóa, Du lịch và Hàng Không dân dụng Ấn Độ đã có nhiều sáng kiến mới trong việc trang bị thêm về cơ sở vật chất, nhu cầu dịch vụ tốt hơn, giúp du khách ngoại quốc hành hương chiêm bái các thánh tích Phật giáo...
Ông cũng nêu ra những trọng tâm của thánh tích Phật giáo quan trọng tại Ấn Độ, cần được bảo tồn và phát huy.
Hội nghị đã thông qua các di sản và các địa điểm hành hương Phật giáo.
Ra đời  vào tháng 8-2011, Liên Minh Phật giáo Toàn cầu (IBC), có hơn 320 tổ chức thành viên từ 39 quốc gia, hoạt động theo phương châm: “Trí tuệ tập thể” (Collective Wisdom), “tiếng nói thống nhất” (United Voice) nhằm chia sẻ cung cấp một tiếng nói thống nhất về các truyền thống Phật giáo và đảm bảo rằng các giá trị và nguyên tắc của Phật giáo luôn là một phần quan trọng trong tư tưởng xã hội và chính trị toàn cầu, và các giải pháp đối với các vấn đề quốc tế và quốc gia mà nhân loại đang quan tâm.
Thứ tư, 05 Tháng 10 2016 12:36

Triển lãm ảnh Phật giáo tại Praha

Một cuộc triển lãm ảnh về nữ tu Phật giáo vùng Himalaya do nhiếp ảnh gia Olivier Adam thực hiện vừa được tổ chức tại Thư viện ảnh quốc gia Praha (Cộng hòa Czech).

Triển lãm được sắp đặt trong không gian khu Hội thảo 2000, nơi Vaclav Havel, vị Tổng thống tiền nhiệm của Cộng hòa Czech và cũng là người bạn của Đức Dalai Lama, sáng lập cách đây 20 năm.

Olivier Adam đã đi khắp vùng Himalaya và chụp khá nhiều bức ảnh cho bộ sưu tập có tên “Những người con gái của Đức Phật”. Nhiếp ảnh gia này thường lui tới nhiều nhất là vùng cực Bắc Ấn Độ, gần Dharamsala.

Cũng nhờ những chuyến đi trong khoảng thời gian dài 8 năm qua mà Adam và vợ có đầy đủ các tư liệu về cuộc đời của các vị nữ tu Phật giáo. Được biết, triển lãm sẽ kéo dài đến 28-2 năm sau.

G.T
(theo Monitor)


Toàn cảnh Hội nghị thống nhất Phật giáo VN tại Hội trường chùa Quán Sứ, Hà Nội - Ảnh Tư liệu

Đó là ý trong Lời khai mạc Hội nghị đại biểu Thống nhất Phật giáo VN của HT.Thích Trí Thủ với vai trò là Trưởng ban Vận động Thống nhất Phật giáo VN, tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, sáng ngày 4-11-1981.

“Hôm nay, lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta có một hội nghị gồm đầy đủ đại biểu các tổ chức, giáo hội, hệ phái Phật giáo trong cả nước: Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ và Phật giáo Khmer, Tăng Ni và nam nữ cư sĩ, già và trẻ, từ mọi miền trên đất nước VN đã vân tập về đây, trong hội trường trang nghiêm và rực rỡ với một quyết tâm sắt đá: xây dựng hoàn thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo VN”, Hòa thượng tuyên bố.

Như trong nội dung của hai bài trước đã giới thiệu, trong lịch sử Phật giáo VN đã diễn ra nhiều cuộc vận động thống nhất và kết quả là đã đi đến được thống nhất. Tuy nhiên, ngoại trừ sự thống nhất Phật giáo dưới thời nhà Trần, các cuộc thống nhất còn lại đều gặp một số trở ngại do cơ chế, hoặc do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt tạm thời, nên chưa thực sự thống nhất xứng với danh xưng thống nhất toàn quốc, trọn vẹn lãnh thổ của đất nước ta và đầy đủ các thành phần, hệ phái, truyền thống, tổ chức Phật giáo hiện hữu.

“Sự thống nhất thực sự, trọn vẹn và dân chủ”

165 đại biểu thuộc các đoàn của Ban Vận động Thống nhất Phật giáo VN: Hội Phật giáo Thống nhất VN, Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền VN, Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM, Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy VN, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Giáo hội Tăng-già Khất sĩ VN, Thiên Thai Giáo Quán tông, Hội Phật học Nam Việt, các đại biểu Tăng Ni, cư sĩ tiêu biểu (38 vị giáo phẩm Hòa thượng, 70 vị Thượng tọa, 18 vị Đại đức, 6 vị Ni trưởng, 11 Ni sư, 1 Sư cô, 21 nam, nữ cư sĩ), là những vị tiêu biểu các tông phái, tổ chức mang theo nguyện vọng thống nhất trong một ngôi nhà Giáo hội chung đã cùng vân tập về chùa Quán Sứ, Hà Nội dự Hội nghị từ ngày 4 đến 7-11-1981.

Với vai trò Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN, HT.Thích Trí Thủ trong trả lời phỏng vấn Báo Giác Ngộ  trước sự kiện này đã bày tỏ ẩn ý thú vị: “Thật là vô lý khi suốt một đời người từ tấm bé đến lúc già nua chỉ mặc có một chiếc áo mà cũng vừa và hợp thời trang hay sao? Đạo Phật là đạo của khế cơ khế lý mà lại đứng yên một chỗ, một hình thái thì thật là kỳ cục và chỉ đưa đến sự hủy diệt mà thôi”. (báo Giác Ngộ số 131, năm 1981)

Đó cũng chính là điểm gặp gỡ của chư tôn đức giáo phẩm, các vị đứng đầu các  Giáo hội, tông phái, hệ phái lúc bấy giờ. HT.Thích Minh Nguyệt, Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM cho rằng việc thống nhất Phật giáo là “cơ duyên để củng cố lại tư tưởng gần với Chánh pháp phù hợp với tình cảm của dân tộc…”. HT.Thích Giới Nghiêm, Tăng thống Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy VN xác quyết rằng, Phật giáo không thể đứng ngoài lịch sử, “Việc thống nhất Phật giáo sẽ tạo cho Phật giáo có tiếng nói chung, có tổ chức chung và sự đóng góp cho Phật pháp cùng dân tộc sẽ to lớn hơn, mạnh hơn”, Hòa thượng nhận định.

qkien2.jpg
Chư tôn giáo phẩm cùng nhất tâm đảnh lễ Tam bảo
trước phiên khai mạc Hội nghị Thống nhất Phật giáo VN - Ảnh Tư liệu

Sau phiên trù bị ngày 3-11-1981, Hội nghị làm việc chính thức trong 4 ngày liên tục tiếp theo với nhiều nội dung, trong đó đặc biệt tập trung thảo luận các văn kiện quan trọng là Dự thảo Hiến chương và Đại cương Chương trình hoạt động của GHPGVN, nghe tham luận của đại diện 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo tham dự; giới thiệu về cơ cấu của Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự và Ban Thường trực thuộc cơ cấu Trung ương Giáo hội; suy tôn Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, suy cử Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN...

“Sau ba lần khiêm nhường thoái thác trước toàn thể đại biểu, nhưng với sự cung kính nhất tâm quy ngưỡng của toàn đại hội, với thái độ trang nghiêm, chư tôn Trưởng lão HT.Thích Đức Nhuận và HT.Thích Trí Thủ cuối cùng cũng đã hoan hỷ nhận gánh trách nhiệm lãnh đạo Giáo hội, ngôi nhà chung và thực sự thống nhất của Phật giáo VN”. Trong niềm xúc động, HT.Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, là thành viên trẻ nhất trong Ban Vận động Thống nhất Phật giáo VN, đại diện cho hệ phái Phật giáo Khất sĩ hồi tưởng giờ phút thiêng liêng chiều 7-11-1981, tại phiên bế mạc, giới thiệu 50 vị giáo phẩm vào Hội đồng Chứng minh, suy tôn Pháp chủ; tuyên đọc danh sách 49 vị vào Hội đồng Trị sự và suy cử Chủ tịch.

Sau khi thành tựu viên mãn, Hội nghị đã ban hành Nghị quyết gồm 7 điểm, công bố Đại cương Chương trình hoạt động gồm 6 điểm, ra Tuyên bố về trách nhiệm bảo vệ hòa bình thế giới, ra Lời kêu gọi gởi đến toàn thể Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước, xác nhận vai trò GHPGVN kế thừa lịch sử truyền bá giáo lý Phật-đà hơn hai ngàn năm, là tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo VN trong và ngoài nước.

Niềm vui về sự ra đời của một tổ chức Giáo hội trong ý nghĩa thống nhất thực sự và trọn vẹn lan tỏa không chỉ trong Tăng Ni, Phật tử mà rộng đến cả các giới bên ngoài xã hội.

Nói về sự kiện “ngàn năm một thuở” này, HT.Thích Thanh Kiểm, trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm bộc bạch ngay sau đó, “Việc thống nhất Phật giáo là một nguyện vọng ấp ủ lâu nay của mọi giới Tăng Ni, Phật tử cho nên hội nghị thành công làm cho mọi người vô cùng phấn khởi”. Đại diện cho tôn giáo bạn, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình cũng đã có lời chúc mừng sự thành công của Hội nghị. Nghệ sĩ nhiếp ảnh tài hoa Võ An Ninh tin tưởng sự ra đời của GHPGVN sẽ đem đến một sinh khí mới để Phật giáo góp phần xây dựng đất nước, làm vẻ vang cho Phật giáo VN.

Nhiều vị giáo phẩm tôn túc, cư sĩ là chứng nhân của sự kiện lịch sử trên đã viên tịch, qua đời; một số vị vẫn còn đang tiếp tục các trọng trách của Giáo hội cũng như các công tác khác, như HT.Thích Thiện Bình, HT.Thích Hiển Pháp, HT.Thích Trí Quảng, HT.Dương Nhơn, HT.Danh Nhưỡng, HT.Thích Giác Toàn, HT.Thích Thiện Tâm, HT.Thích Thiện Duyên, HT.Thích Trí Tâm, CS.Tống Hồ Cầm, CS.Nguyễn Văn Hàm…

Những lời lưu danh muôn thuở

Hội nghị Thống nhất Phật giáo VN có ý nghĩa lịch sử hết sức lớn lao, là kết quả của một quá trình vận động nhiều tháng trước đó và đáp ứng nguyện vọng của Tăng tín đồ Phật giáo VN từ Bắc chí Nam, một số nước hải ngoại. “Nền thống nhất này dựa trên tinh thần dân chủ, lấy tứ chúng đồng tu làm cơ sở, chứ không dựa trên giáo quyền, phong kiến hay quyền lực cá nhân”. Lời khẳng định của HT.Thích Trí Thủ trong Diễn văn khai mạc cũng là cơ sở về đường lối hoạt động của GHPGVN trong mấy mươi năm qua, để GHPGVN là tổ chức duy nhất xứng đáng đại diện cho Phật giáo VN trong và ngoài nước.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Xuân Thủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước, sau khi chia sẻ những kinh nghiệm và ưu tư về đất nước trong bối cảnh thế giới, ông khẳng định “Phật giáo ở VN vốn có truyền thống yêu nước”, và ông chúc mừng sự thành công của hội nghị lịch sử này, đồng thời bày tỏ sau Hội nghị Thống nhất, dưới ngôi nhà chung, Tăng Ni và Phật tử “sẽ góp phần cùng với dân tộc viết thêm những trang sử mới huy hoàng”.

Ông Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN tại phiên khai mạc, xác quyết chân lý được lịch sử chứng minh: “Kinh nghiệm chỉ ra rằng khi nào tôn giáo gắn bó với dân tộc, đoàn kết với nhân dân thì khi đó tôn giáo mới làm sáng tỏ chân lý đạo giáo của mình”. Hội nghị Thống nhất Phật giáo VN là sự kiện lịch sử sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, độc lập và tự chủ; đây là cơ hội để Phật giáo VN phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc của mình.

qkien5.jpg
Ông Xuân Thủy phát biểu tại Hội nghị - Ảnh Tư liệu

Trong buổi tiếp đoàn các đại biểu tham dự Hội nghị Thống nhất Phật giáo VN tại Phủ Chủ tịch ngày 8-11-1981 sau khi Hội nghị thành tựu viên mãn, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ, MTTQVN và nhân dân chúc mừng, ông chia sẻ rằng món quà cao quý mà ông thường dành tặng đến các quốc khách nước ngoài là tôn tượng Phật nghìn tay nghìn mắt, tiêu biểu cho Phật giáo VN. “Trong quá khứ, Phật giáo VN đã gắn chặt với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã xác nhận Phật giáo VN là một tôn giáo từ bản chất, bản sắc từ trong thực tiễn hoạt động của mình, biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, với Tổ quốc. Trong sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc ngày nay, Phật giáo VN đã góp phần xứng đáng. Đối với VN, nói đến tôn giáo là người ta nghĩ ngay đến đạo Phật, đến những việc làm cao quý, đẹp đẽ của đông đảo Tăng Ni, Phật tử. Đạo Phật ở VN mang màu sắc dân tộc VN rõ rệt. Có thể nói rằng Phật giáo VN đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng của dân tộc, và trưởng thành cùng dân tộc”.

Lời của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng được đúc kết trong cùng một âm hưởng xác quyết truyền thống của gắn bó của Phật giáo VN với dân tộc, đó là “hộ quốc an dân”, sự ra đời của GHPGVN là tất yếu lịch sử, kế thừa truyền thống ấy phù hợp với thời đại, như phương châm đã được đưa vào Hiến chương ngay từ ngày thành lập: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.

Hội nghị Thống nhất Phật giáo VN từ ngày 4 đến 7-11-1981 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội chính là Hội nghị thành lập GHPGVN, đem đến “một nguồn vui vô hạn” và “đánh dấu bước đi mới của Phật giáo VN…” như lời của Hòa thượng Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự Thích Trí Thủ trong Lá thư xuân Nhâm Tuất - 1982 gởi đến toàn thể Tăng Ni, Phật tử.

Hoàng Độ - Quảng Kiến

Thứ tư, 05 Tháng 10 2016 12:21

Nguy cơ về hiện tượng lão hóa tín đồ

Đối với tôn giáo, tín đồ giữ vai trò quan trọng, vừa là đối tượng hướng đến vừa là yếu tố tạo nên sức sống, quyết định sự tồn vong và phát triển của một tôn giáo.

Phật giáo qua hàng ngàn năm hiện diện trên mảnh đất hình chữ S đã phát huy những giá trị tích cực của một tôn giáo nên được đón nhận như là lẽ sống đạo đức, tâm linh cần thiết của cộng đồng xã hội và các tầng lớp nhân dân qua các giai đoạn lịch sử. Các thiết chế về văn hóa, tư tưởng, triết lý của Phật giáo dần trở thành một phần không thể tách rời với dân tộc và có giai đoạn Phật giáo được xem là quốc giáo.

Sau 35 năm hình thành và phát triển, hệ thống hành chính Giáo hội đã phủ khắp 63/63 tỉnh, thành của đất nước. Và ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên, Giáo hội cũng đã tạo lập, phân công nhiệm vụ cho hai ban trực thuộc chuyên trách về công tác Tăng Ni, tự viện, tín đồ nhưng suốt thời gian dài đó vẫn chưa có một số liệu chuẩn xác về tình hình tín đồ Phật giáo tại Việt Nam chia theo độ tuổi, cơ cấu, thành phần, địa bàn phân bố.

Cho đến năm 2015, trước những bức xúc của xã hội và trong giới Tăng Ni, Phật tử trước những tín hiệu giảm sút về tín đồ, Giáo hội đã ban hành thông tư hướng dẫn về việc thống kê Tăng Ni, tự viện, tín đồ trên toàn quốc. Tuy nhiên, do không có những hướng dẫn cụ thể và không đưa ra các công cụ thống kê chuẩn mực nên kết quả mang lại có tính phỏng đoán và không đáng tin cậy.

Trong phát biểu mới nhất về nội dung này tại Hội thảo Tăng sự toàn quốc 2016 vừa diễn ra tại Hà Nội, HT.Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS cho biết có thể tạm ước tính: tín đồ Phật tử đã quy y có sổ bộ và phái Quy y tại các tự viện trên 63 tỉnh thành trong cả nước là 16.232.064 người, còn lại là tín ngưỡng đạo Phật 38.376.355 người.

Tuy nhiên, một trong những số liệu mà Hòa thượng Chủ tịch HĐTS đưa ra cần được quan tâm là với thông tin này, “lượng Phật tử trẻ còn tương đối thấp, chỉ khoảng 15%, còn lại là thành phần lớn tuổi”. Lần đầu tiên, vị đứng đầu cơ quan điều hành cao nhất của Phật giáo cả nước thừa nhận tỷ lệ chênh lệch quá lớn về cơ cấu theo độ tuổi tín đồ trước toàn thể chư tôn túc lãnh đạo Phật giáo khắp các tỉnh, thành trong toàn quốc nhân một hội thảo khoa học là điều đáng quan tâm.

Qua đó, dù chưa có số liệu chính xác, chưa thể đánh giá được tín đồ Phật giáo tại Việt Nam tăng hay giảm theo thời gian nhưng cũng có thể hình dung được hiện tượng lão hóa lực lượng Phật tử đang sinh hoạt trên khắp các tự viện. Và với số liệu về tỷ lệ Phật tử trẻ trong số tín đồ Phật giáo như đã xác định, không cần đặt câu hỏi nhưng với những ai có tâm huyết với công cuộc truyền bá Chánh pháp, xiển dương giá trị giải thoát cũng có thể tự hiểu thực trạng thay đổi niềm tin tôn giáo hiện đang diễn ra âm thầm mà khốc liệt như thế nào và giới trẻ đang chuyển hướng về đời sống tâm linh ra sao. 

Rồi đây, nếu không có những phương thức phù hợp, những chiến lược tốt trong công tác hoằng pháp, chỉ khoảng vài chục năm nữa, ta sẽ phải thừa nhận, tín đồ Phật giáo Việt Nam giảm thiểu một cách rõ rệt, đáng quan ngại.

Sơn Thoại

Cố mục sư Martin Luther King và Thiền sư Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, người mang Phật giáo đến với phương Tây vừa được vinh danh Giải thưởng Hòa bình và Tự do Pacem in Terris năm 2015 (Pacem in Terris Peace and Freedom Award) - theo tin từ trang điện tử The Catholic Messenger.

Theo lệ của giải thưởng này, người được trao tặng giải thưởng sẽ đến nhận giải tại Davenport. Tuy nhiên, do Thiền sư đang trong tình trạng hồi phục sức khỏe vì đột quỵ và tuổi cao nên Giám mục Martin Amos sẽ đến tu viện Lộc Uyển, nam California - Hoa Kỳ để trao giải thưởng đến Hòa thượng.

Được biết, các môn đệ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ thay Hòa thượng nhận giải thưởng này vào ngày 31-10 tới đây, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Martin Luther King Jr. được trao giải này.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là người sáng lập Phật giáo Nhập thế (Socially Engaged Buddhism) và cũng là người khai sinh các phong trào và hoạt động thực tập chánh niệm ở phương Tây.

The Pacem in Terris Peace and Freedom Award - là giải thưởng hòa bình của Thiên chúa giáo được trao hàng năm, kể từ năm 1964 bởi Ủy ban Thiên chúa giáo Davenport nhằm “vinh danh nhân vật có thành tựu đối với các hoạt động hòa bình và công lý cho dân tộc và thế giới” - theo tờ Lion’s Roar.

Trần Trọng Hiếu

Thứ tư, 28 Tháng 10 2015 16:01

Sống chung với lũ

Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
                                (Thiền sư Từ Đạo Hạnh)

“Sống chung với lũ”? – Tào lao, ở TP.HCM làm gì có lũ! Trước đây, tôi cũng nghĩ như thế, cho đến một hôm tôi trở về công ty sau chuyến đi xa; để mừng sếp, các cộng sự đã nhất loạt reo lên: “A, lũ về”(!). Thì ra, đối với cộng sự của mình, tôi là “lũ” mà họ đã phải sống chung…

Đã thế, cộng sự của tôi còn nói với nhau, giọng nửa đùa vửa thật: “Hãy chôn dấu nỗi buồn sâu kín, đừng để lộ ra mặt một cách quá đáng, vì đằng nào thì “lũ” cũng đã về rồi”. Tôi còn biết thêm, những lần tôi chào công ty ra sân bay, các cộng sự thường rù rì nhắc nhau: “đừng vui sớm, hãy đợi đến khi máy bay cất cánh đã, như thế niềm vui chúng ta mới trọn vẹn”. Tôi thật sự dở khóc dở cười trong hoàn cảnh này: khóc, vì mình là “lũ” trong mắt cộng sự mà không hề biết; cười, là vì biết muộn vẫn còn hơn không. Đâu phải sếp nào cũng may mắn được cộng sự nói cho mà biết mình là “lũ”!

Vừa qua, tôi lại càng biết thêm, tại các công ty do những người bạn của tôi làm chủ, công sự của họ đã nghĩ ra một cách giúp mọi người trong công ty được thư giãn là: lên kế hoạch rồi “ép” sếp đi công tác xa! Có nghĩa là chỉ cần một mình sếp đi vắng, tức thì sức khỏe của cả công ty được dồi dào. Từ thông tin đắt giá đó, tôi suy ra: A, nếu vậy mình không phải là “lũ” cá biệt!Cũng có thể tất cả chúng ta – những người chủ doanh nghiệp – đều là “lũ” lớn hoặc “lũ” nhỏ trong mắt cộng sự của mình. Ôi, lẽ nào những doanh nhân lịch lãm, bặt thiệp, duyên dáng, thân thiện,…như chúng ta mà lại đồng nghĩa với lũ ư?

Ai mà không muốn mình là dòng sông thơ mộng, êm đềm, lãng mạn trong mắt người khác? Ai mà không muốn mình là niềm vui ấm áp, là cơn gió thoảng, là bông hoa tươi thắm khi đến với những người chung quanh? Vì thế, khi nghe cộng sự gọi mình là lũ, chúng ta không khỏi suy nghĩ” Mình là lũ à? Lũ tự bao giờ? Và điều gì đã làm cho chúng ta trở thành lũ?

Những người trong hay ngoài giới kinh doanh đều biết rằng, để trở thành chủ doanh nghiệp, ngoài kiến thức kinh doanh cần phải có, doanh nghiệp còn phải hội tụ nhiều tố chất khác biệt: bản lĩnh, tiên phong, mạo hiểm, xông xáo, chấp nhận rủi ro và đứng mũi chịu sào trong mọi hoàn cảnh. Đã có không ít trường hợp xảy ra trong thực tế, khi doanh nghiệp bị khốn đốn, người nhận lương vỗ tay cái bép nhảy qua công ty khác, con người trả lương cũng nhảy, nhưng nhảy lầu! Như là một cái nghiệp (chướng) đeo mang, chủ doanh nghiệp luôn là người “cực trước – khổ sau”, thành công hay thất bại, họ đều khổ. Là bởi, họ luôn đặt mục tiêu thị phần ngày một lớn trên thương trường: doanh nghiệp còn nhỏ thì ấp ủ dành thị phần trong nước, lớn hơn tìm cách mon men đến các nước láng giềng rồi khao khát chiếm lĩnh thị trường thế giới! Nương theo tỷ lệ % chiếm được thị phần đó, thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu các nhân của họ cũng tỏa sáng theo. Chính vì vậy, những người chủ khổ triền miên, khổ lâu dài, chỉ vì ít khi ngoái lại phía sau, lại nhiều hồ hởi tiến về phía trước.

Người có tố chất làm chủ khát vọng của họ cuồn cuộn như sóng lũ trào dâng. Họ tự đặt ra mục tiêu, rồi gạch từ điểm xuất phát đến đích một đường thẳng rất bén xong bươn bã đi tới. Cũng như lũ, từng cơn lớn nhỏ khác nhau, các chủ doanh nghiệp cũng vậy. Người có của do cha mẹ để lại, con đường đi tới thành công thường ngắn và bằng phẳng; người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn muốn khẳng định được thương hiệu phải trải qua cay nghiệt hơn.

Không ít người, để đạt mục tiêu, họ gạt chướng ngại, dẹp chông gai… đã đã đành, nhưng cũng đôi khi họ vô tình đạp lên cả hoa hồng và cỏ mượt – dù đó là điều mà không ai trong số họ muốn mắc phải. Trên đường vươn tới, người họ trầy xước, chân họ rướm máu, tai họ không nghe chim hót, mắt họ không thấy hoa nở…; họ đã phần nào giống bản chất của lũ – cuốn phăng đi mọi thứ khi nó lướt qua.
Không ít lần “lũ” trăn trở: liệu chúng ta, những người chủ doanh nghiệp, không là “lũ” nữa có được không? Vì là “lũ” có sung sướng gì đâu, “hoàn cảnh” lắm. Nhưng ngày qua ngày, những người chủ doanh nghiệp phải hoạt động trong môi trường mà sự cạnh tranh, đào thải, sang lọc rất khắc nghiệt, muốn không là “lũ” cũng chẳng dễ dàng gì.

Hơn nữa, trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước: nền kinh tế thị trường còn rất sơ khai, môi trường đầu tư kinh doanh chưa thuận lợi, đội ngũ doanh nhân còn non tay nghề (bởi thời gian đổi mới chưa dài), đã thế vốn thì thiếu, lực lại yếu; tất cả những điều đó đã dẫn đến số doanh nghiệp đủ tầm cỡ để cạnh tranh trong thời hội nhập chưa có bao nhiêu, số doanh nghiệp thoát ra được cái vòng lẩn quẩn của bản ngã cũng chưa phải là nhiều. Và như thế thì “lũ” trong thương trường còn nhiều lắm, người này là “lũ” của người kia, người kia lại là “lũ” của người nữa…

Nếu trong mắt ai đó thấy những người chủ doanh nghiệp có lúc giống như lũ thì hãy động lòng thương cảm, bởi bản thân của họ đã phải thường xuyên dậy sóng ba đào.

Áy náy vì các cộng sự phải chịu đựng cảnh sống chung với “lũ”; mà “lũ” lại là mình, tôi xuống giọng nhẹ như gió thoảng, khẽ khàng nói với họ: “Thôi, từ nay sếp không là “lũ” nữa, sếp hứa cố gắng trở thành dòng song thơ mộng, trong vắt, hiền hòa trong mắt mọi người…”. Và tôi thật sự bất ngờ khi nghe cộng sự của mình phản ứng:”Dạ, thôi sếp, trước sao giờ vậy! Doanh nghiệp của mình đang yên ổn làm ăn, biết đâu sự thay đổi của sếp làm cho nó lận đận, lao đao? Vả lại, mọi người cũng đã sống quen với lũ rồi, giờ sếp đổi “e”, lành dữ khó lường, cộng sự biết đâu mà né”. Bởi vậy, muốn không là “lũ” nữa, đâu có dễ.

Có giải pháp nào giúp chủ doanh nghiệp vẫn hoạt động trong thương trường nhưng không phải thường xuyên dậy sóng ba đào không? Câu trả lời là “không”, bởi khát vọng ngày mai phải giàu hơn ngày hôm nay đã là bản chất của “lũ”. Câu trả lời là “có” nếu giới chủ biết quay về cư trú trong nhà của Phật, học cách nhìn đồng tiền cả hai mặt có và không : “có” thì có tự mảy may/”không” thì cả thế gian này cũng không! ■

TẠ THỊ NGỌC THẢO | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 64

«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»
Trang 7 trong tổng số 11

Ảnh Đẹp

1 5.jpg
  • MP3 Nghe Nhiều

  • Tin Mới

  • Tin Đọc Nhiều

Suy Niệm Lời Phật Dạy

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Lịch và Đồng hồ

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player